MÔ ĐUN 3 – CHỦ ĐỀ 8. MÔ HÌNH NHÓM HỖ TRỢ GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÒ PHIÊN DỊCH VIÊN NGÔN NGỮ KÝ HIỆU (2)

Mô đun 3: GIÁO DỤC TRẺ ĐIẾC TRƯỚC TUỔI ĐẾN TRƯỜNG

CHỦ ĐỀ 8. MÔ HÌNH NHÓM HỖ TRỢ GIA ĐÌNH  VÀ VAI TRÒ PHIÊN DỊCH VIÊN

NGÔN NGỮ KÝ HIỆU (Phần 2)


Nội dung 2: Vai trò của phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu/ hướng dẫn viên giao tiếp

  • Hoạt động 1: Phân tích vai trò của phiên dịch viên NNKH theo các quan điểm khác nhau

+ Phiên dịch viên NNKH có vai trò như thế nào?

+ Quan điểm về vai trò của phiên dịch viên NNKH thay đổi như thế nào theo thời gian và theo cách tiếp cận khác nhau?

  • Thông tin nguồn cho hoạt động 1
    • Các quan niệm khác nhau về vai trò phiên dịch viên NNKH

Ở chủ đề 3 đã có dịp đề cập tới các mô hình phiên dịch và các vai trò của một phiên dịch viên NNKH nói chung. Phần này, chúng tôi phân tích sâu hơn các vai trò của phiên dịch viên NNKH ở các thời điểm khác nhau với các quan điểm khác nhau. Từ đó người học tự liên hệ, lựa chọn và vận dụng các vai trò này trong công việc của Nhóm hỗ trợ gia đình sao cho phù hợp nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.

Các phiên dịch viên NNKH Mỹ thường xác định vị trí hay vai trò của mình theo một hình mẫu nào đó, ví dụ mẫu hình “người trung chuyển/truyền tải” hay hình mẫu “song ngữ – hai văn hoá”. Mỗi cách gọi khác nhau chỉ ra thái độ và hành vi nghề nghiệp trong từng giai đoạn phát triển của nghề này. Các phiên dịch thường ủng hộ các hình mẫu hiện đại và tách khỏi các hình mẫu cũ bị coi là lạc hậu và mang tính áp chế với người Điếc.  Tuy vậy Mindess (1999) cảnh báo các phiên dịch viên đừng nên vội vã từ bỏ tất cả các mẫu hình cũ và gợi ý rằng trong một số trường hợp cụ thể sẽ phù hợp hơn khi tiếp nhận các cách ứng xử liên quan đến nhiều mẫu hình khác nhau. Mindess có quan điểm rằng không nên từ bỏ ngay một cái nào trong các mẫu hình nào sau đây: “người trợ giúp”, “người trung chuyển”, “song ngữ – hai văn hoá”, và “bạn đồng minh”. Sẽ có lúc các hành vi ứng xử liên quan đến từng mẫu hình này vẫn là một lựa chọn phù hợp về văn hoá.

Để hiểu được điều đó, chúng ta có thể xem các phiên dịch viên NNKH đã nhìn nhận thế nào về vai trò của mình qua suốt những năm phát triển của nghề này. Mặc dù các phiên dịch viên đã tự xác định rất nhiều mẫu hình khác nhau cho nghề nghiệp của mình, phần mô tả ở đây chỉ giới hạn trong các mẫu hình phổ biến nhất, được đề cập chi tiết hơn (trong các tài liệu của Mindess (1999) và Stewart, Schein & Cartwright (1998)). Chúng ta tập trung đến vấn đề là bằng cách nào mà thông điệp trong một ngôn ngữ có thể được sắp xếp lại một cách chính xác trong một ngôn ngữ khác.

 Phiên dịch viên là Người trợ giúp

Chúng ta có thể nghĩ một cách đơn giản là từ khi có người Điếc với ngôn ngữ chính là ngôn ngữ bằng ký hiệu thì cũng có những người làm việc phiên dịch hay biên dịch. Thường thì những người này là thành viên trong gia đình người Điếc (bố mẹ, anh chị em, và con của người Điếc), hoặc người nào đó (như giáo viên, bạn bè…) biết sử dụng ngôn ngữ bằng ký hiệu. Tuy vậy, trong lịch sử không mấy ai trong số này đã được tuyển dụng làm công việc phiên dịch NNKH và có thể sống bằng thu nhập từ việc phiên dịch.

Có rất ít hồ sơ lưu trữ về phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu (và thực tế thì hồ sơ lưu trữ về các vấn đề ngôn ngữ và xã hội của cộng đồng Điếc cũng chẳng mấy khi đầy đủ), nhưng có các bằng chứng là công việc phiên dịch đã được tiến hành trong quá khứ. Chúng ta biết rằng người Điếc không mấy khi sống tách rời hoàn toàn khỏi cộng đồng người nói, nên có thể nói rằng trước đây việc phiên dịch vẫn được tiến hành một cách tự phát trong giao lưu giữa bạn bè, đối tác làm ăn, các buổi hội họp, và các sự kiện chính thức.

Ví dụ Lane (1984) đã viết về đức cha Sincard làm phiên dịch cho các học trò Điếc của mình vào khoảng đầu thế kỷ 19 khi ông trình bày về khả năng ngôn ngữ của họ cho giới trí thức hồi đó. Ở đảo Martha’s Vineyard thuộc Mỹ, nơi đặc biệt có nhiều người Điếc sống cho đến giữa thế kỷ 18, hầu như tất cả dân trong vùng, cả người Điếc và người nói đều biết ngôn ngữ bằng ký hiệu (Groce 1985). Có rất nhiều người Nghe ở đây thành thạo ký hiệu, vì vậy thỉnh thoảng trong các buổi họp mặt, nhất là khi có khách từ “đất liền” đến thăm và không biết ký hiệu nhưng cần nói chuyện với người Điếc ở đây thì luôn có một người sẵn sàng đứng ra phiên dịch. Tất cả thực tế này cho thấy lịch sử của nghề phiên dịch NNKH đã có từ rất lâu trước khi người ta đưa nghề này vào danh mục nghề nghiệp.

Trong nhóm hỗ trợ gia đình, mỗi thành viên trong nhóm có một vai trò, nhiệm vụ riêng và phiên dịch được coi là một công việc. Vậy nếu phiên dịch viên với vai trò là người trợ giúp hay người giúp đỡ liệu có phù hợp?

Phiên dịch viên là Người trung chuyển

Khoảng giữa thế kỷ 20 đã có nhiều thay đổi đối với cộng đồng Điếc Bắc Mỹ. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ bắt đầu tìm hiểu về NNKH Mỹ, điều này giúp người ta bắt đầu nhìn nhận về ngôn ngữ ký hiệu là một ngôn ngữ có đầy đủ chức năng hoạt động như ngôn ngữ nói. Các cộng đồng Điếc bắt đầu có ý thức tự hào mạnh mẽ hơn về ngôn ngữ và văn hoá của mình và dần dần từ bỏ sự trợ giúp kiểu áp đặt từ người ngoài. Các cơ hội giáo dục được mở ra, một phần vì xu hướng của hệ thống trường học muốn giữ học sinh để học tại các trường địa phương thay vì gửi các em đến trường nội trú dành cho người Điếc.

Cho đến thời điểm đó, việc phiên dịch phổ biến vẫn là do những người nói có quan hệ với cộng đồng Điếc đứng ra giúp đỡ khi cần thiết. Nhưng có lẽ cái được coi là giải pháp từ lâu nay lại trở thành một vấn đề: những người nói biết ký hiệu này thường có quan hệ gần gũi với cộng đồng Điếc (vì vậy mà họ mới biết ký hiệu). Nhưng với thực tế cuộc sống của cộng đồng Điếc ngày càng được mở rộng trong xã hội, việc giúp đỡ phiên dịch theo kiểu tình nguyện như vậy sẽ không đáp ứng được nhu cầu. Thay vào đó sẽ cần các phiên dịch viên “chuyên nghiệp”. Hơn nữa, chắc cũng không có ai có thể tình nguyện giúp làm phiên dịch hàng ngày tại trường học cho học sinh Điếc cả.

Dần dần nhiều người đã nhận ra rằng quy mô công việc phiên dịch đã cần nhiều hơn, rằng mô hình “người trợ giúp” trong việc phiên dịch đã không còn đáp ứng được nhu cầu và vì vậy một kỷ nguyên mới cho công việc phiên dịch đã được mở ra. Tuy vậy Mindess (1999) nhắc nhở rằng sự trợ giúp của rất nhiều những người phiên dịch này đã thực sự được ghi nhận. Người Điếc ca ngợi sự tình nguyện và sẵn lòng giúp đỡ của họ và sự gần gũi họ cảm nhận được với những người phiên dịch này. Trên thực tế, có thể nói rằng nhiều người trong số  các phiên dịch này rất gắn bó về văn hoá với cộng đồng Điếc, mặc dù đôi khi họ cũng cảm thấy phải làm việc quá sức hoặc bị lợi dụng.

Vào năm 1964 một nhóm gồm phiên dịch viên, người Điếc và các thành viên khác đã họp mặt ở bang Indiana-Mỹ để bàn về các vấn đề liên quan đến phiên dịch ngôn ngữ bằng ký hiệu và lập ra một tổ chức cấp quốc gia gọi là “Cơ quan đăng ký phiên dịch cho người Điếc” (RID). Căn cứ vào sự cần thiết phải có một tiêu chuẩn hành vi ứng xử chuyên nghiêp, tổ chức này đã tiến hành việc tuyển dụng, đào tạo và công  nhận các phiên dịch viên trên phạm vi toàn quốc. Hiệp hội các phiên dịch viên ngôn ngữ hình ảnh Canada (ALVIC) thành lập năm 1979 cũng theo các nguyên tắc tương tự. Mặc dù nhiều phiên dịch viên người Canada đã là thành viên của RID, nhưng ALVIC được thành lập để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc làm ở Canada, là đất nước song ngữ chính thức và có số lượng lớn phiên dịch viên cả NNKH Mỹ – tiếng Anh và NNKH Quebec – tiếng Pháp.

Một phần quan trọng trong mục tiêu ban đầu của RID là soạn thảo một bộ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp để nhằm đảm bảo rằng các hoạt động của phiên dịch viên không can thiệp hay làm hại đến những người Điếc mà họ phục vụ. Bên cạnh các quy tắc đạo đức hướng dẫn cho các phiên dịch viên biết bảo mật thông tin và dịch trung thực, văn bản này còn giới thiệu khái niệm về sự khách quan công bằng. Nguyên tắc gốc được nêu trong tài liệu của Quigley và Youngs (1965:9), như sau: “Người phiên dịch cần giữ thái độ khách quan trong suốt quá trình dịch, tránh đưa các quan điểm của bản thân mình vào trừ khi được một trong các bên yêu cầu.” Về sau đoạn này được đổi thành: “phiên dịch viên/người chuyển ngữ không được tư vấn, khuyên, hay đưa các ý kiến cá nhân của mình vào” (RID 1980:12). Lý do là bất cứ sự tham gia cá nhân nào từ phía phiên dịch viên theo kiểu này sẽ gây tác động đến kết quả của tình huống sự việc, mà đó không phải là trách nhiệm của phiên dịch.

Chỉ sau vài năm, các phiên dịch viên đã chủ động đặt khoảng cách giữa họ và khách hàng, với động cơ nâng cao năng lực cho người Điếc bằng việc từ chối làm giúp các việc thay cho họ, thay vào đó phiên dịch viên chỉ đơn giản làm việc phiên dịch để cung cấp thông tin để người Điếc có thể tự làm các việc của mình. Chính trong giai đoạn này đã xuất hiện các cụm từ được sử dụng phổ biến như “hỗ trợ giao tiếp”, hay cô/anh ấy “chỉ là người phiên dịch”. Người Điếc được coi là nắm quyền kiểm soát hoàn toàn. Vì thế trong thời kỳ này các phiên dịch viên thường được mô tả là làm việc như một “bộ phận trung chuyển”  hay “mô hình máy dịch” (ví dụ xem trong Baker-Shenk 1986). Phiên dịch viên chính là các “ống truyền dẫn” để trung chuyển thông điệp.

Định hướng “người trung chuyển” xuất hiện khi các phiên dịch viên bắt đầu được ghi nhận một cách chuyên nghiệp – được đào tạo bài bản hơn, có chứng chỉ bằng cấp, có quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp, và chắc chắn không phải là những “người trợ giúp” nữa. Một tuyên bố được ghi đậm nét đối với cộng đồng Điếc là các phiên dịch viên sẽ không can thiệp vào việc của họ, vì cộng đồng này đã lớn mạnh. Rất nhiều mốc quan trọng đã được thực hiện trong giai đoạn này. Các phiên dịch viên bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về vai trò của mình và xác định các kỹ năng cần có để tiến đến chuyên nghiệp hoá. Hệ thống chứng chỉ tiêu chuẩn quốc gia đã được thiết lập ở Mỹ và nhiều năm sau là ở Canada khi tổ chức ALVIC bắt đầu cấp chứng chỉ cho các phiên dịch viê NNKH Mỹ- tiếng Anh vào năm 1990. Cũng nhờ đó, các chương trình đào tạo cấp cao đẳng – đại học cho phiên dịch viên đã bắt đầu phát triển mạnh ở nhiều vùng Bắc Mỹ.

Nhưng cũng có thể là các phiên dịch viên nói chung đã đi quá xa. Ý tưởng phiên dịch viên là người trung chuyển có vẻ đã ảnh hưởng tới hai khía cạnh ứng xử. Thứ nhất, như được mô tả trên đây, đã đặt khoảng cách giữa người phiên dịch và khách hàng của họ, trong khi tập tính văn hoá của người Điếc là phải hoàn toàn cởi mở chia sẻ thông tin (Mindess 1999). Vì thế thiện ý của phiên dịch viên (là không can thiệp vào sự vụ) lại tạo ra một số mâu thuẫn về văn hoá. Mục đích duy trì tính trung lập của phiên dịch viên trong quá trình dịch gần đây đã gặp thách thức với một số nghiên cứu về diễn ngôn được phiên dịch. Ví dụ Metzger (1999) nghiên cứu về phiên dịch trong hai tình huống liên quan đến y tế và thấy rằng khi các phiên dịch viên có sự đóng góp vào diễn ngôn đối thoại của khách hàng thì một số đóng góp đó đã làm thuận lợi hơn cho tiến trình giao tiếp còn một số khác lại làm giảm hiệu quả của nó. Nghiên cứu của Roy (2000) cũng cho thấy rằng phiên dịch viên là đối tượng nghiên cứu của bà đã tham gia một cách tích cực trong việc tạo ra các bước ngoặt. Phân tích của Setton (1999) đề cập đến các ý kiến không thể tránh khỏi của phiên dịch viên về diễn giả và bài gốc có tác động đến bản dịch, và nghiên cứu của Wadensjö (1998) về diễn ngôn được phiên dịch cho thấy các phiên dịch viên trên thực tế không phải là người ngoài cuộc, một phần là vì vai trò điều phối tương tác của mình, mà họ thực sự là các thành viên tham gia vào tổng thể diễn ngôn. Vì phiên dịch viên có mặt ở đó, là người đóng vai trò trung gian về ngôn ngữ và có đầu óc, nên không thể không đóng góp ít nhất là một vài ảnh hưởng vào tình huống sự việc.

Ảnh hưởng thứ hai liên quan trực tiếp đến việc sử dụng ngôn ngữ của phiên dịch viên. Vì NNKH Mỹ và tiếng Anh rất khác nhau về mặt hình thái và hệ thống cú pháp nên không thể dịch kiểu từng từ tương ứng với nhau được. Trên thực tế, để người dịch có thể chuyển những gì được nói trong bài gốc (kể cả nhiều khi việc này rất đơn giản) thì có thể phải đi theo một con đường khác thông qua cấu trúc của ngôn ngữ đích, việc này đôi khi giống như “giải thích”, điều mà các phiên dịch viên theo mô hình “trung chuyển” một cách khách quan sẽ muốn tránh. Phản ứng ở đây, theo Baker-Shenk (1986) là quay trở lại với chuyển ngữ, qua đó hình thái của bài dịch, nhất là khi dịch từ tiếng Anh sang NNKH Mỹ, sẽ giống với hình thái và cấu trúc của bài gốc tiếng Anh. Baker-Shenk cho rằng cách xử lý này sẽ không dễ hiểu đối với bộ phận khán giả người Điếc, nhưng thường thì họ cũng không phản đối. Vì vậy kiểu dịch áp đặt mà các phiên dịch này muốn tránh vẫn tồn tại bởi sự lựa chọn cách xử lý của chính họ. Ngôn ngữ là một phần chính của đặc trưng văn hoá, có nghĩa rằng các lựa chọn ngôn ngữ của phiên dịch viên gần như không thể mang tính trung lập về văn hoá.

Phiên dịch viên là Trung gian về văn hoá

Trong các năm gần đây, mô hình “phiên dịch máy” dần dần không còn được ưa chuộng nữa. Các phiên dịch viên tham gia một cách sâu và cần thiết vào quá trình chuyển thông điệp bởi vì việc giải mã ngôn ngữ rồi đặt lại mã đòi hỏi một loạt kỹ năng và chiến thuật mà người phiên dịch buộc phải có (xem các thảo luận chi tiết hơn trong Gile 1995). Hơn nữa, việc sử dụng và tương tác ngôn ngữ giữa các thành viên tham gia diễn ngôn là những cuộc phiêu lưu phức tạp, vì vậy chỉ đơn giản chuyển thông tin như một cái máy không trí óc không phải là một mô hình phù hợp cho phiên dịch viên trong công việc.

Người Điếc đã tuyên bố mạnh mẽ rằng cộng đồng của họ được phản ánh rõ nhất trên phương diện văn hoá, bởi vì ngôn ngữ cùng với các tập tục và truyền thống xã hội là những yếu tố tạo nên sự khác biệt của cộng đồng này (Mindess 1999; Padden & Humphries 1988), cùng với hàng loạt các rào cản xã hội chia rẽ người Điếc và người nói (Padden 1996). Vì thế các phiên dịch viên đã cố gắng tìm hiểu thêm về các khác biệt văn hoá giữa cộng đồng Điếc và nói và tác động của nó đến sự giao lưu giữa họ. Kết quả là các phiên dịch viên bắt đầu coi vai trò của họ như một người trung gian về ngôn ngữ và văn hoá, với các thuật ngữ như mô hình “trung gian về văn hoá”, “liên văn hoá”, “song ngữ-hai văn hoá”. Các cách gọi này nghe dễ chịu hơn nhiều so với “máy dịch” hay “người trung chuyển” vì chúng mang tính nhân văn hơn, nhưng do hiểu biết của chúng ta về cái gì tạo nên nếp nghĩ của người Điếc (và của cả người nói nữa – xem Mindess (1999) về tâm lý văn hoá người Mỹ) là rất hạn chế, và vì việc đào tạo cho phiên dịch viên về chủ đề ảnh hưởng liên văn hoá còn chưa bài bản, nên còn quá sớm để chúng ta có thể tự gọi mình là các chuyên gia song ngữ, kể cả trong tình huống phiên dịch. Mindess cũng từ chối gọi phiên dịch viên là người trung gian (văn hoá), bởi vì công việc của một người trung gian đi xa hơn nhiều trong lĩnh vực đó so với một phiên dịch viên. Nói chung, không có phương tiện gì cụ thể có thể giúp việc phiên dịch một cách phù hợp về văn hoá, và trong mọi trường hợp, kể cả khi phiên dịch viên có nhiều kiến thức và kinh nghiệm văn hoá Điếc, chúng ta cũng còn rất nhiều điều phải học hỏi về khía cạnh văn hoá trong vai trò phiên dịch của mình khi chúng ta làm việc với từng tình huống khác nhau.

Phiên dịch viên là đồng minh

Với ngày càng nhiều sự không đồng tình với mô hình kiểu “trung gian văn hoá”, có thể vì họ vẫn đặt phiên dịch viên vào vị trí trung tâm của quá trình tương tác (trong khi đây không phải quá trình tương tác của họ), gần đây nhất người ta đề xuất rằng phiên dịch viên có thể là “đồng minh” với cộng đồng Điếc (Baker-Shenk 1992). Baker-Shenk tin rằng một mục đích của cách tiếp cận theo mô hình máy dịch – là vai trò trung lập của phiên dịch viên cho phép người Điếc tự kiểm soát việc giao tiếp của mình và qua đó ở vị trí cân bằng với người nói –  đã thất bại vì “khi làm ra vẻ người Điếc và người nói ở cùng một thế cân bằng với nhau và không có cách xử lý có ý thức để điều chỉnh sự mất cân bằng về quyền lực, chính chúng ta lại giúp cho người nói tiếp tục duy trì cái thế mạnh hơn của mình và duy trì sự mất quyền lực của người Điếc” (Baker-Shenk 1992:124). Mô hình trung gian văn hoá có thể là chưa phù hợp vì người phiên dịch vẫn có quá nhiều sự kiểm soát (ví dụ tự quyết định cái gì cần điều chỉnh về mặt văn hoá và cái gì không cần) và cư xử với từng thành viên một cách bình đẳng trong bối cảnh văn hoá của riêng họ. Bình đẳng văn hoá được nhắc đến như một điều đương nhiên, tuy nhiên trong các hoạt động tương tác liên văn hoá luôn có thể có sự mất cân bằng – một nhóm này hay nhóm khác có thể cảm thấy họ không được đứng trên mảnh đất của mình.

Người phiên dịch là bạn đồng minh có hàm ý rằng, do sự mất cân bằng quyền lực dễ thấy giữa người Điếc và người nói mà các phiên dịch viên được đặt ở một vị trí đặc biệt nhằm cung cấp thông tin về quá trình tương tác cho thành viên Điếc để họ được tạo sức mạnh để tự quyết định cách xử lý. Mô hình đồng minh với cộng đồng điếc là như thế nào thì có lẽ còn kém rõ ràng hơn nhiều so với các mô hình đã nói trên đây. Baker-Shenk (1992) cho rằng làm đồng minh bắt đầu với quan điểm không phải là làm việc cho cộng đồng Điếc, mà làm việc cùng với họ, hỗ trợ cho mục đích và lợi ích của họ theo cách nhìn của họ chứ không phải theo quan điểm của phiên dịch viên. Mindess (1999) lưu ý rằng mô hình đồng minh có thể được coi là quay trở lại mô hình người trợ giúp, nhưng ngày nay rõ ràng là thái độ giúp đỡ kiểu áp đặt không còn được khoan dung nữa. Nếu các phiên dịch viên có ý định khám phá triết lý đồng minh trong công việc của mình trong những năm tới đây thì sự thành công sẽ phụ thuộc vào việc học hỏi nhiều kiến thức hơn về văn hoá và cộng đồng của người Điếc vào việc thành thạo song ngữ hơn (để kỹ năng về ngôn ngữ không còn là rào cản), vào việc thể hiện hiểu biết liên văn hoá trong hành vi của chính mình và có kiến thức sâu về cấu trúc diễn ngôn, nghĩa, và khả năng tác nghiệp trong hai ngôn ngữ.

Sự phù hợp của các mô hình cho phiên dịch viên

Mô hình là biểu tượng. Tất nhiên phiên dịch viên chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ là cái máy dịch, nhưng nếu chúng ta nghĩ về các điểm tích cực của một bộ máy vận hành tốt, thì cũng có ích khi chỉ ra sự tương đồng đó.  Trong suốt lịch sử ngắn ngủi của nghề này, chúng ta luôn cố để hiểu rõ hơn việc chúng ta làm gì và nên làm như thế nào. Và khi kiến thức và kỹ năng của chúng ta được nâng cao hơn, chúng ta nên có khả năng có các lựa chọn đúng đắn. Mindess (1999) gợi ý rằng thay vì từ bỏ bất kỳ một mô hình nào đã có trong lịch sử của nghề này, chúng ta nên cân nhắc những giá trị và điểm mạnh của mỗi mô hình, và tuỳ thuộc vào từng bối cảnh cụ thể mà lựa chọn cách ứng xử phù hợp nhất, bất kể nó thuộc về mô hình nào. Ví dụ, khi diễn giả nói quá nhanh mà không thể có cách điều chỉnh để dịch, nhiều phiên dịch viên cảm thấy họ không có lựa chọn nào khác là làm việc ở chế độ “tự động”. Điều này có nghĩa là phải từ bỏ một phần nội dung hoặc một phần nghĩa, nhưng trong những trường hợp như vậy thì kể cả các đối tượng khán giả khác cùng tiếp nhận thông tin qua ngôn ngữ gốc cũng không thể theo kịp, vì đơn giản nó quá nhanh không thể xử lý kịp. Trong trường hợp cụ thể đó phiên dịch viên có thể cảm thấy dịch theo kiểu “máy dịch” là chiến lược phù hợp nhất, mặc dù có thể sẽ có nhiều vấn đề phải giải quyết sau đó. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là người phiên dịch này lúc nào cũng làm việc theo mô hình máy dịch/người trung chuyển như vậy.

Quan trọng nhất, ngày càng rõ ràng rằng các ảnh hưởng văn hoá có ở khắp nơi trong giao tiếp và khi mọi người từ những nền văn hoá khác nhau đến giao lưu cùng với nhau thì sẽ có sự va chạm về văn hoá. Phần lớn các quyết định của phiên dịch viên đều mang bản chất đạo đức, nhưng điều chúng tôi chú ý ở đây là các quyết định đó hoàn toàn có khả năng được nhìn nhận khác đi bởi những người thuộc nền văn hoá khác nhau và các quyết định này sẽ có hệ quả về văn hoá.

  • Hoạt động 2: Tìm hiểu trình tự tiến hành của hướng dẫn viên giao tiếp trong một buổi làm việc Nhóm hỗ trợ gia đình

+ Phiên dịch viên NNKH nên làm gì trước, trong và sau buổi hỗ trợ gia đình?

+ Việc thực hiện đầy đủ các bước có ý nghĩa như thế nào? Ví dụ minh họa.

  • Thông tin nguồn cho hoạt động 2:
    • Một PDV nên làm gì để buổi hỗ trợ gia đình diễn ra hiệu quả?

Một phiên dịch viên tốt trong Nhóm hỗ trợ gia đình không chỉ người truyền tải được đầy đủ, chính xác nội dung, mục đích thông điệp các bên đưa ra mà còn là cầu nối, tạo động lực thúc đẩy giao tiếp. Để làm được điều này, phiên dịch viên trong Nhóm hỗ trợ gia đình nên chuẩn bị kỹ càng trước khi đến làm việc tại gia đình trẻ cùng hướng dẫn viên NNKH, làm tốt nhiệm vụ của mình trong buổi làm việc và chia sẻ, rút kinh nghiệm sau buổi làm việc.

Sau đây là các công việc mà một phiên dịch viên NNKH sẽ đều gặp trong quá trình làm việc với Nhóm hỗ trợ gia đình.

  1. Liên lạc với gia đình trẻ Điếc và/ hoặc trung tâm

Đây là bước đầu tiên mỗi khi phiên dịch viên được yêu cầu nhận một công việc. Ngay từ khi nhận được lời mời, dù chưa quyết định là sẽ nhận việc này hay không, PDV phải đáp lại theo cách chuyên nghiệp nhất có thể. Ấn tượng ban đầu được tạo ra trong lần liên lạc đầu tiên, dù qua điện thoại hay gặp trực tiếp, hoặc tin nhắn thì cũng nên nhớ tính chuyên nghiệp cần được thể hiện mọi nơi mọi lúc và luôn phải thận trọng với cách xử sự của mình.

Trong việc hỗ trợ trẻ Điếc tại gia đình, PDV sẽ liên lạc với cha mẹ hoặc người thân, người chăm sóc trẻ trước khi đến làm việc. Sự liên lạc này nhằm trao đổi một số thông tin cơ bản với gia đình về công việc của nhóm, chủ đề bài dạy, nội dung bài học, thời gian, địa điểm dự kiến. Nếu không có một lịch làm việc cố định với gia đình trẻ, một việc nên làm của một PDV là liên lạc với gia đình trước khi nhóm đến hỗ trợ. Nếu phụ huynh có một tâm thế sẵn sàng và chủ động trong việc học cùng trẻ Điếc thì họ sẽ cảm thấy thoải mái, hào hứng hơn.

Việc liên hệ với trung tâm – nơi trẻ Điếc có thể học nhóm là một việc làm cần thiết. Mặc dù việc lên lịch, bố trí thời gian cho các nhóm đã được trung tâm sắp xếp, xong trong các trường hợp bất thường như không tổ chức học nhóm được trong một buổi nào đó thì cần thông báo lại cho trung tâm kịp thời. Mặt khác, các gia đình vẫn cần được thông báo đây đủ về thời gian, địa điểm học cụ thể tại trung tâm một cách thường xuyên.

  1. Chủ động, sẵn sàng trong mọi tình huống

Một khi xác định mình sẵn sàng cho công việc, phiên dịch viên sẽ cần phải tìm hiểu thêm thông tin để đánh giá chính xác hơn về mức độ kiến thức của chủ đề phải dịch, mức độ thành thạo ngôn ngữ và những kĩ năng cần thiết, từ đó xác định xem khả năng của mình có thể thực hiện công việc một cách hiệu quả không.

Điều đầu tiên phiên dịch viên nên tìm hiểu là bối cảnh của buổi làm việc là gì và tự đặt ra những tình huống với các vấn đề có thể xảy ra theo đó. Khi hình dung chi tiết hơn về từng tình huống dịch cụ thể và những gì có xảy ra, phiên dịch viên sẽ có các câu hỏi mang tính cụ thể hơn. Và khi tiếp tục hỏi thêm như vậy lại giúp phiên dịch viên NNKH biết được chính xác hơn. Quá trình này giúp cho phiên dịch viên đưa ra những phán đoán logic về những gì có thể xảy ra trong tình huống tương tác, từ đó nâng cao những kĩ năng cần thiết và các cách ứng xử mang tính đạo đức và chuyên nghiệp cần có.

Nếu phiên dịch viên NNKH có thể thu hẹp giới hạn các tình huống có thể xảy ra, họ sẽ có được hình dung cụ thể hơn về tình huống và dự đoán chính xác hơn những gì có thể xảy ra dựa trên các thông tin đã thăm dò thêm. Tất nhiên là họ không thể phán đoán hoàn toàn chính xác những gì sẽ xảy ra cho nên họ cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho nhiều tình huống khác nhau. Họ phải cân bằng được giữa việc phán đoán theo logic và việc chuẩn bị cho những tình huống ngoài mong đợi.

Trong bối cảnh làm việc là tại gia đình hoặc tại trung tâm, bên cạnh các nội dung buổi hỗ trợ mà nhóm hỗ trợ gia đình đã chuẩn bị có thể xảy ra nhiều tình huống khác đi kèm. Ví dụ trẻ không học theo các nội dung và hoạt động của nhóm, cha mẹ trẻ có những câu hỏi hoặc những thắc mắc về trẻ, về bài dạy hoặc thậm chí về những điều không liên quan đến trẻ hay đến nhóm hỗ trợ.v.v. Việc thu thập các thông tin và tự đặt các tình huống giả thiết sẽ giúp cho phiên dịch viên NNKH chủ động xử lí tốt các tình huống đó.

Nhiều người có suy nghĩ rằng việc phiên dịch các ký hiệu của hướng dẫn viên người Điếc là một việc đơn giản. Ví dụ: hướng dẫn viên người Điếc dạy trẻ làm ký hiệu quả cam, phiên dịch viên NNKH chỉ cần nói cho bố mẹ biết đó là ký hiệu “quả cam”. Nhưng công việc của phiên dịch viên NNKH nhóm hỗ trợ gia đình không chỉ có thế.

  1. Chuẩn bị trước khi đến nhà trẻ hoặc chuẩn bị tại trung tâm

Chuẩn bị là yếu tố thiết yếu đối với việc dịch thành công. Phiên dịch viên luôn phải có sự chuẩn bị cho mọi nhiệm vụ của mình. Hiểu được mục đích của buổi làm việc và dự đoán chính xác yêu cầu thông tin, ngôn ngữ là sự chuẩn bị đầy đủ của PDV trước một nhiệm vụ dịch.  Dự đoán những điều trên chính xác nghĩa là việc chuẩn bị đạt hiệu quả.

Những kiến thức mà phiên dịch viên thường phải tìm hiểu thêm sẽ chia làm 2 loại: kiến thức liên quan đến chủ đề công việc hoặc là ngôn ngữ sử dụng trong buổi làm việc. PDV cần tìm được nguồn để tiếp cận những kiến thức này. Có thể hỏi bạn bè, đồng nghiệp hoặc tự tìm hiểu trên các phương tiện thông tin khác.

Trước khi nhóm hỗ trợ gia đình đến nhà trẻ làm việc cần chuẩn bị bài dạy (trả lời câu hỏi: mục đích buổi dạy là gì? Nội dung dạy là gì? Dạy như thế nào,), đồ dùng dạy học cần thiết (lựa chọn đồ dùng có sẵn hay tự làm) và thống nhất cách tiến hành hỗ trợ.

Việc chuẩn bị này có thể tiến hành sau khi kết thúc buổi hỗ trợ hoặc trước buổi hỗ trợ (thường là trước buổi hỗ trợ). PDV NNKH và hướng dẫn viên người Điếc cần gặp gỡ và thống nhất các vấn đề của nhóm với nhau trước khi đến gia đình trẻ.

  1. Đến gia đình trẻ Điếc và/ hoặc tại trung tâm

Phiên dịch viên NNKH luôn phải cư xử một cách chuyên nghiệp mọi lúc, bắt đầu bằng việc đến đúng giờ. Nếu gặp sự cố bất thường không đến kịp cần liên lạc với gia đình, trung tâm và người trong nhóm biết. Tránh để tình trạng các thành viên trong nhóm hoặc gia đình phải chờ đợi hoặc lo lắng. Sự thống nhất trong nhóm làm việc về thời gian, địa điểm, nội dung hướng dẫn, phương pháp hướng dẫn, cách thức tổ chức, .v.v. và tuân thủ theo sự thống nhất này điều vô cùng quan trọng.

Một lưu ý nữa là nhớ tắt mọi loại thiết bị liên lạc trong lúc phiên dịch nếu không muốn bị coi là thiếu chuyên nghiệp. Mặc dù thiết bị liên lạc là vô cùng quan trọng trong khâu liên hệ với gia đình trẻ Điếc hoặc trung tâm xong nếu việc sử dụng các thiết bị này không đúng mục đích và đúng thời điểm sẽ ảnh hướng đến chất lượng của buổi hỗ trợ.

Trên thực tế, nhiều phiên dịch viên NNKH đã sử dụng điện thoại hoặc một số thiết bị giải trí khác trong quá trình làm việc ở nhóm hỗ trợ gia đình vì họ nghĩ sự tương tác giữa hướng dẫn viên người Điếc và trẻ quá đơn giản hoặc các ký hiệu mà trẻ Điếc đang học cha mẹ trẻ có thể biết ký hiệu đó nghĩa là gì.

  1. Chuẩn bị tại gia đình trẻ Điếc và/ hoặc tại trung tâm

Một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến quá trình phiên dịch là xác định vị trí và tư thế (đứng hay ngồi, di chuyển hay không di chuyển) cho phù hợp nhất của PDV. Việc này tưởng như là không quan trọng nhưng phiên dịch viên phải xét đến nhiều yếu tố để xác định được vị trí và tư thế phù hợp nhất cho một tình huống tương tác. Họ phải để ý đến môi trường vật chất tại nơi làm việc, tầm nhìn, âm thanh, ánh sáng có thể ảnh hưởng đến khả năng nhìn và nghe của trẻ Điếc, phụ huynh của trẻ và hướng dẫn viên người Điếc trong quá trình tương tác. Vị trí cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các thông tin tại chỗ. Các yếu tố về ánh sáng hoặc âm thanh hay các điều kiện khác có thể sẽ gây hạn chế việc quyết định vị trí và tư thế làm việc thuận tiện nhất.

Hơn nữa, phiên dịch viên nên xác định có nên cố định một chỗ hay di chuyển xung quanh, nên đứng hay ngồi trong suốt quá trình, hay có thể hoặc cần thay đổi giữa 2 tư thế. Một sự lựa chọn không đúng đắn sẽ làm cho PDV hay tất cả những người tham gia cảm thấy không thoải mái về cả thể chất lẫn tâm lý, từ đó gây ảnh hưởng xấu đến thể lực và khả năng tập trung của phiên dịch viên và vì vậy cũng làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận thông tin của thành viên tham gia tương tác. Phiên dịch viên NNKH thường phải làm việc trong một thời gian dài ở một buổi hỗ trợ (khoảng 2 tiếng) nên việc cảm thấy thoải mái về thể chất là rất quan trọng.

Các thành phần tham gia trong một buổi hỗ trợ gia đình thường là: hướng dẫn viên người Điếc, cha mẹ trẻ Điếc, trẻ Điếc, Phiên dịch viên NNKH và có thể là người giám sát hoặc người quay phim. Vị trí ngồi của PDV nên là ngồi cạnh cha mẹ để đảm bảo cha mẹ nghe rõ và đầy đủ thông tin được dịch, ngồi ở vị trí có thể quan sát được sự tương tác giữa hướng dẫn viên người Điếc và trẻ Điếc để đảm bảo không bỏ lỡ bất kỳ thông tin nào.

  1. Hỗ trợ và thúc đẩy giao tiếp trong buổi hỗ trợ

Mỗi quá trình tương tác mà PDV làm việc đều khác biệt. Mặc dù phiên dịch viên có thể đã từng làm việc với các đối tượng và loại công việc này trước đây, nhưng mỗi lần như thế lại có nét đặc biệt riêng bởi những yếu tố không lường trước được.

Con người tương tác với nhau chủ yếu thông qua giao tiếp và vì thế điều được kì vọng cơ bản ở một phiên dịch viên NNKH là dịch những gì được nói từ ngôn ngữ nói sang NNKH  và ngược lại. Nhưng để thực sự dịch hiệu quả, phiên dịch viên phải chuyển tải được ý nghĩa của những gì được nói ra, phiên dịch viên NNKH phải chuyển tải được “thông điệp” mà người nói/ người ký hiệu muốn mang đến.  mà người nói/ người ký hiệu dùng từ ngữ (từ ngữ nói hoặc ký hiệu) để diễn đạt các khái niệm mình muốn truyền đạt cho đối tượng tương tác với mình, vì vậy trước hết phiên dịch viên phải hiểu được nghĩa các từ ngữ đó thì mới hiểu được nội dung thông điệp, họ không thể dịch những gì họ không hiểu. Ở đây kỹ năng phỏng đoán cùng với quá trình chuẩn bị tốt sẽ giúp cho phiên dịch viên hiểu ngữ cảnh nơi diễn ra giao tiếp, bao gồm cả mục đích của quá trình tương tác. Có nhiều phiên dịch viên hiểu hết các từ ngữ mà các bên đưa ra nhưng lại không truyền tải được mục đích hoặc ẩn ý thông điệp ẩn chứa do không căn cứ vào hoặc không hiểu ngữ cảnh  nơi đang diễn ra giao tiếp.

Ngoài ra,  phiên dịch viên còn cần để ý đến những sự phần “tương tác phụ” khác để hiểu được thông điệp thật sự của người nói để dịch cho chính xác. Để có thể kiểm tra mục đích các “tương tác phụ” nhằm hiểu rõ hơn thông điệp cần chuyển tải, phiên dịch viên cần lưu ý đến hàng loạt yếu tố giao tiếp khác như ngôn ngữ cơ thể, giọng điệu, ngữ điệu, cử chỉ, cũng như những yếu tố khái quát hơn như môi trường vật chất, động lực của quá trình tương tác, và mục đích tương đồng hay khác nhau của các thành viên tham gia. Cuối cùng, phiên dịch viên chỉ có thể truyền đạt lại những gì họ hiểu từ thông điệp gốc trong bối cảnh gốc bằng cách xây dựng lại cái họ cho là một bản dịch tương ứng trong mội bối cảnh tương ứng – điều này đòi hỏi rất nhiều suy luận của phiên dịch viên, vì vậy có rất nhiều khả năng phiên dịch viên hiểu sai một cách không chủ ý mục đích thực sự của mối tương tác. Những “tương tác phụ” tưởng chừng như chỉ là vấn đề bổ sung nhưng thực chất lại vô cùng quan trọng, bởi nó hàm chứa nội dung, mục đích và nhiều ẩn ý của người giao tiếp. Phiên dịch viên NNKH phải lưu ý nắm bắt và truyền tải được điều này.

Khi những bên tham gia có chung một mục đích, sẽ dễ dàng hơn cho phiên dịch viên để hiểu được mục đích giao tiếp của các tương tác phụ và cảm thấy chắc chắn hơn với phần dịch của mình. Khi những mục đích này khác nhau mà phiên dịch viên không hiểu được, phiên dịch viên có thể cảm nhận được sự không thành công hay không thành công trong việc dịch bằng cách quan sát diễn biến của cuộc nói chuyện cũng như kết quả của cuộc nói chuyện này hoặc độ trôi chảy của cuộc nói chuyện. Không có gì đáng ngần ngại hoặc xấu hổ khi phải hỏi lại các thông tin mà các bên đưa ra để phiên dịch viên hiểu và truyền tải một cách đầy đủ, chính xác. Thường phụ huynh sẽ có rất nhiều điều muốn biết về tình hình tiếp thu, hợp tác,…của con em mình sau buổi hướng dẫn nên việc trao đổi giữa phụ huynh và hướng dẫn viên người Điếc thường xuyên diễn ra. Cho nên phiên dịch viên NNKH phải nắm bắt được toàn bộ thông tin trong một buổi dạy và các thông điệp giữa phụ huynh và hướng dẫn viên người Điếc đang trao đổi.

  1. Có nên chia sẻ, rút kinh nghiệm với các thành viên trong Nhóm hỗ trợ gia đình sau mỗi buổi làm việc?

Sau khi đã hoàn thành công việc một buổi hỗ trợ trẻ Điếc tại gia đình hoặc tại trung tâm, phiên dịch viên NNKH nên suy nghĩ lại về trải nghiệm của mình. Nếu họ không trực tiếp xem xét lại cách làm việc và cách giải quyết vấn đề của mình, họ thực sự bỏ lỡ cơ hội để phát triển chuyên môn. Nếu không làm việc này, phiên dịch viên sẽ không hiểu được những quyết định và hành động nào giúp ích cho công việc của mình và tại sao. Và vì vậy nếu gặp tình huống tương tự trong tương lai, họ có thể sẽ lại tiếp tục có những quyết định và hành động sai lầm mà trước đây đã từng dẫn đến thất bại.

Bằng cách tổng kết lại buổi làm việc, phiên dịch viên mới thực sự học hỏi ở mức tối đa. Khi làm như vậy, họ sẽ nhớ lại những phần mà khi đó họ chưa thực sự hiểu, họ có thể không biết được tất cả các yếu tố nào gây ảnh hưởng lên quá trình tương tác và phản ứng của mình, hoặc lẽ ra họ đã có thể sử dụng những chiến thuật nào để xử lý tình huống đó. Để tận dụng cơ hội học hỏi này, họ có thể tham khảo ý kiến của người Điếc cũng như của các phiên dịch viên khác. Nhưng nên nhớ giữ thái độ làm việc chuyên nghiệp là chỉ chia sẻ những thông tin để nhằm tìm hiểu vấn đề khúc mắc, tránh sự tranh luận, cãi vã.

Trong nhóm hỗ trợ gia đình gồm nhiều thành phần tham gia khác nhau, phiên dịch viên nên xem xét về những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ, văn hóa và thông tin, và cách xử lý tình huống như thế nào để công việc dịch đạt hiệu quả cao nhất.

Khả năng học hỏi và rút kinh nghiệm là bước quan trọng để phiên dịch viên tiến đến thành công, vì khi xem xét lại mỗi nhiệm vụ dịch hay khi cần thiết, thảo luận với mọi người, phiên dịch viên NNKH có thể tiếp thu những gì đã học được từ cả thành công và thúc đẩy sự trưởng thành về chuyên môn.

  • Hoạt động 3: Thực hành vận dụng

Yêu cầu 1: Xem video về nhóm hỗ trợ trẻ Điếc tại gia đình và thực hiện các yêu cầu sau:

  • Chỉ ra các thành phần tham dự trong nhóm hỗ trợ gia đình.
  • Nhận xét về các bước tiến hành làm việc trong nhóm hỗ trợ gia đình.
  • Nhận xét về hiệu quả làm việc của phiên dịch viên NNKH/ hướng dẫn viên giao tiếp và hiệu quả của buổi hỗ trợ gia đình

Yêu cầu 2: Thực hành sắm vai nhóm hỗ trợ gia đình trong buổi hỗ trợ tại nhà.

  • Nhóm 4 thực hành sắm vai (Cha/ mẹ trẻ Điếc, trẻ Điếc, hướng dẫn viên người Điếc, phiên dịch viên NNKH). Nhóm hỗ trợ gia đình đến hỗ trợ trẻ Điếc tại nhà của trẻ.
  • Thành viên khác quan sát thực hành sắm vai và đưa ra nhận xét.
  • Rút kinh nghiệm từ việc thực hành sắm vai.
  • Thông tin nguồn cho hoạt động 3

Video: https://www.youtube.com/watch?v=Ot3LkjLnV8k

Đánh giá nội dung 2

  1. Theo anh/ chị một phiên dịch viên ngôn ngữ ký hiệu có vai trò gì?
  2. Các quan điểm về vai trò phiên dịch viên NNKH thay đổi như thế nào theo thời gian?
  3. Phân tích và lấy ví dụ về cách tiến hành một buổi làm việc hiệu quả của phiên dịch viên NNKH/ hướng dẫn viên giao tiếp.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu trong nước:

  1. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2012). Giáo dục Đặc biệt và những thuật ngữ cơ bản, Nhà Xuất Bản Đại Học Sự Phạm. Hà Nội, VN.

Tài liệu nước ngoài:

  1. Brosseau, Nathalie (1997). An educational interpreter prepares for work. In The AVLIC News, Volume XIII, No. 3 & 4, Fall & Winter (pp. 1–3). Edmonton, Alberta: The Association of Visual Language Interpreters of Canada.
  2. Cokely, Dennis (1992). Interpretation: A Sociolinguistic Model. Burtonsville, MD: Linstok Press.
  3. Freire, Paulo (1972). Pedagogy of the Oppressed. New York: Herder & Herder.
  4. Frishberg, Nancy (1986). Interpreting: An Introduction. Silver Spring,MD: RID Publications.
  5. Humphrey, Janice H., & Bob J. Alcorn (1995). So YouWant to Be an Interpreter? An Introduction to Sign Language Interpreting. Amarillo, TX: H & H Publishers.
  6. Johnson, Robert E., Scott K. Liddell, & Carol J. Erting (1989). Unlocking the Curriculum: Principles for Achieving Access in Deaf Education. Gallaudet Research Institute Working Paper 89–3, Gallaudet University, Washington, DC.
  7. Mindess, Anna (1999). Reading Between the Signs: Intercultural Communication for Sign Language Interpreters. Yarmouth, ME: Intercultural Press.
  8. Radatz, Jan (1994). Professional standards for interpreters working in educational settings. RID Views, 11 (2), 1–22.
  9. Schick, Brenda (2001). Interpreting for children:How it’s different. Odyssey,Winter/Spring 2001 (pp. 8–11). Washington, DC: Laurent Clerc National Deaf Education Center, Gallaudet University.
  10. Seal, Brenda Chafin (1998). Best Practices in Educational Interpreting. Needham Heights, MA: Allyn & Bacon. Stewart, David A. (1988). Educational interpreting for the hearing impaired. British Columbia Journal of Special Education, 12 (3), 273–279.
  11. Stewart, David A., JeromeD. Schein, & Brenda E. Cartwright (1998). Sign Language Interpreting: Exploring its Art and Science. Needham Heights, MA: Allyn & Bacon.
  12. Wilcox, Phyllis, Jo Santiago, & Gary Sanderson (1992). Triangulation of interpreting relationships: A model for connecting educational interpreter standards. In Jean Plant-Moeller (Ed.), Expanding Horizons: Proceedings of the 1991 RID Convention (pp. 166–176). Silver Spring, MD: RID Publications.
  13. Winston, Elizabeth (1994). An interpreted education: Inclusion or exclusion? In Robert C.
  14. Johnson & Oscar P. Cohen (Eds.), Implications and Complications for Deaf Students of the Full InclusionMovement: A Joint Publication of the Conference of Educational Administrators
  15. Serving the Deaf, and the Gallaudet Research Institute (pp. 55–63). Washington, DC: Gallaudet Research Institute.
  16. Winzer, Margret, Sally Rogow, & Charlotte David (1987). Exceptional Children in Canada. Scarborough, Ontario: Prentice-Hall.
  17. Witter-Merithew, Anna, & Richard Dirst (1982). Preparation and use of educational interpreters. In Donald G. Sims, Gerard G.Walter, & Robert L.Whitehead. (Eds.), Deafness and Communication: Assessment and Training (pp. 395–406). Baltimore, MD: Williams & Wilkis.

Trang mạng xã hội (website)

www.classroominterpreting.org

www.rid.org