MÔ ĐUN 2 – CHỦ ĐỀ 6: CHUYÊN MÔN VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA PHIÊN DỊCH VIÊN NGÔN NGỮ KÍ HIỆU TRONG GIÁO DỤC (1)

MÔ ĐUN 2: PHIÊN DỊCH NGÔN NGỮ KÝ HIỆU

CHỦ ĐỀ 6. CHUYÊN MÔN VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA PHIÊN DỊCH VIÊN NGÔN NGỮ KÍ HIỆU TRONG GIÁO DỤC (Phần 1)

I. Tổng quan

Để có thể làm tốt công tác phiên dịch NNKH, người học phải rõ được vai trò, những công việc cụ thể của mình trong nghề phiên dịch. Trên cơ sở những hiểu biết bắt buộc người phiên dịch cũng cần biết qui tắc ứng xử, các nguyên tắc đạo đức trong nghề nghiệp. Trong học phần này sẽ tập trung giới thiệu nghề phiên dịch và đào tạo phiên dịch viên ngôn ngữ kí hiệu ở New Zealand, Nhật Bản và Hòa kỳ. Đồng thời cũng giới thiệu vai trò, trách nhiệm và qui tắc đạo đức nghề nghiệp của phiên dịch viên.

Mục tiêu của mô dun

Mục tiêu

          Người học hiểu và phiên dịch là một nghề nghiệp có những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức đặc thù.

Mục tiêu cụ thể

Kiến thức

  • Trình bày được nghề phiên dịch ở một số nước và đặc thù ở Việt Nam;
  • Phân tích các nguyên tắc và chuẩn mục đạo đức của phiên dịch viên ngôn ngữ kí hiệu.

Kĩ năng

  • Hành vi ứng xử phù hợp của phiên dịch viên ngôn ngữ kí hiệu.

Thái độ

  • Tôn trọng ngôn ngữ và văn hóa của cộng đồng người Điếc
  • Có thói quen không ngừng trau dồi năng lực NNKH
  • Có thái độ hợp tác và học hỏi trong lĩnh vực phiên dịch giáo dục người Điếc.
  • Ý thức rõ và thể hiện hành vi đạo đức của nghề phiên dịch NNKH.

II. Giới thiệu tiểu mô đun

TT Nội dung Thời gian
Tổng số Lí thuyết Thực hành
1 Chuyên môn nghề nghiệp phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu 10 5 5
2 Qui tắc đặc đức của nghề phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu 20 10 10

III. Điều kiện cần thiết để thực hiện tiểu mô đun

Điều kiện tiên quyết khi học mô đun: Sau khi học xong chủ đề 1, 2, và 3

IV. Nội dung

Nội dung 1: Nghề và đào tạo phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở một số nước

Nhiệm vụ của học viên – trả lời các câu hỏi dưới đây

  1. Nghề phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở New Zealand, Nhật Bản và Hòa kỳ được hình thành như thế nào?

Thông tin nguồn cho nội dung 1:

Nghề và đào tạo nghề phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở New Sealand (NZ)

Nằm trên Thái Bình Dương, “hàng xóm” của nước Úc, New Zealand (NZ) là một nước với 4 triệu dân, 67% là người Cáp-ca (gốc châu Âu), 15% là người Maori bản địa, 9% người gốc Á, và 7% người dân đảo Thái Bình Dương (Số liệu thống kê của NZ, 2007). Ước tính số người điếc sử dụng NNKH trong khoảng từ 4,500-7,700 người, trong đó người Maori chiếm đa số trong cộng đồng điếc (Dugdale, 2000, Thống kê của NZ).

Hiện trạng nghề phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở New Zealand

Nghề phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở NZ là một trong nghề phiên dịch được công nhận từ năm 1985. Phiên dịch viên ngôn ngữ kí hiệu chủ yếu được đào tạo chuyên sâu về lý thuyết và kỹ thuật phiên dịch.

Hội những người phiên dịch NNKH NZ (SLIANZ) được thành lập năm 1997 với tư cách cơ quan chuyên môn đại diện cho các phiên dịch NNKH ở cấp quốc gia. SLIANZ không có chi nhánh ở các địa phương nhưng có mạng lưới phiên dịch viên NNKH địa phương hoạt động tại ba trung tâm chính. SLIANZ tổ chức hội thảo thường niên và một số hội thảo phát triển chuyên môn nhằm cung cấp thông tin và thúc đẩy công tác đào tạo phiên dịch, duy trì các quy chuẩn nghề và quy định thủ tục khiếu nại, khuyến khích tư vấn kinh nghiệm, và đại diện cho các phiên dịch trong các thương thảo với chính phủ và các cơ quan liên quan. Là một tổ chức nhỏ với hạn chế về cơ sở vật chất và nguồn lực (hiện tại có khoảng 60 hội viên), một số trong các chức năng này chưa được phát triển mạnh. SLIANZ duy trì các mối liên kết với các tổ chức phiên dịch NNKH (SLI) ở nước ngoài và hiện tại là đại diện của khối châu Úc-châu Đại dương tại Hiệp hội những người phiên dịch NNKH thế giới (WASLI). SLIANZ có mối liên kết chính thức với NZSTI, cơ quan với phần lớn thành viên là phiên dịch / biên dịch ngôn ngữ nói, những người có chung mục đích với SLIANZ.

Khóa đào tạo phiên dịch đầu tiên được tổ chức năm 1985 là sáng kiến của Hội người điếc NZ, được tài trợ kinh phí để thuê một giáo viên đào tạo phiên dịch của Mỹ để dạy 8 học viên trong 4 tháng. Mặc dù giáo viên là người Mỹ nhưng NNKH bản địa (chưa được công nhận tại thời điểm đó) vẫn đã được lưu tâm và học bởi các nhóm tình nguyện viên người điếc tham gia vào khóa học như là các mô hình ngôn ngữ trong các buổi học hàng ngày. Các ký hiệu của họ được các học viên và giáo viên lưu vào tài liệu trong suốt khóa học và kết quả là sự ra đời của cuốn từ điển NNKH NZ đầu tiên bao gồm khoảng 1,500 ký hiệu (Levitt 1985). Tiếp theo khóa 1985, Hội người điếc tuyển dụng ba người tốt nghiệp khóa học để làm việc tại ba vùng chính của đất nước. Cho đến 1994, sơ đồ khung dịch vụ này thỉnh thoảng được bổ sung bởi các phiên dịch hợp đồng ngắn hạn đến từ Úc và Anh, điều này đã mang những ảnh hưởng mới mẻ đến việc sử dụng ngôn ngữ địa phương và cơ hội tiếp cận với các kinh nghiệm chuyên môn của nước ngoài. (NNKH NZ, NNKH Anh, NNKH Úc khá gần gũi với nhau trong gia đình NNKH Anh Úc NZ. So sánh cho thấy tỉ lệ từ vựng trùng lặp dao động từ 62-82%, tùy thuộc vào tiêu chí dùng để xác định sự khác biệt về ký hiệu (xem McKee & Kennedy, 2005). Đến năm 1992, một khóa học định kỳ chính thức đã được thiết lập tại trường Đại học AUT (khi đó là Học viện công nghệ Aukland), và con đường đến với bằng cấp về phiên dịch là bằng trù bị đại học ngành phiên dịch NNKH (DipSLI).

Ngôn ngữ kí hiệu được công nhận là một nghề chính thức cùng với việc thừa nhận về pháp lý ngôn ngữ bản địa Maori. Cam kết của chính phủ thúc đẩy việc tiếp cận và hòa nhập người khuyết tật vào xã hội (nêu trong Chiến lược về khuyết tật NZ, Bộ trưởng các vấn đề khuyết tật, 2001) đã tăng cường hỗ trợ nguồn cung cấp cho phiên dịch NNKH. Các chính sách sử dụng phiên dịch thường có hiệu lực bởi câu “ở bất cứ đâu hợp lý và áp dụng được”. Người điếc được lợi từ các điều khoản phiên dịch đó, mặc dù nhận thức, kinh phí và nguồn cung cấp phiên dịch NNKH vẫn là vấn đề ở ngoài các thành phố lớn, nơi hiếm khi gặp các khách hàng người điếc và phiên dịch cũng khó để tìm. Trong thực tế, nguồn kinh phí công chủ yếu cho phiên dịch NNKH ở NZ là xuất phát từ các nguồn hỗ trợ liên quan đến khuyết tật, trong hoàn cảnh không có một chiến lược hay chính sách toàn diện nào của chính phủ về ngôn ngữ.

Pháp lệnh NNKH NZ 2006 tạo ra vị thế ngôn ngữ chính thức cho NNKH, bên cạnh ngôn ngữ Maori bản địa, một bước đi mang tính biểu tượng quan trọng trong quá trình thừa nhận lịch sử bị chèn ép của ngôn ngữ cộng đồng người điếc và những bất lợi xã hội tất yếu của họ. Tuy vậy quyền duy nhất được nêu ra trong pháp lệnh này là cho những người (không cụ thể là người điếc), với NNKH NZ là ngôn ngữ thứ nhất hoặc ngôn ngữ ưu tiên, được sử dụng NNKH NZ trong các hoạt động pháp lý, khi đó họ phải được hỗ trợ bởi phiên dịch có thẩm quyền. Luật cũng quy định chính thức về các tiêu chuẩn của phiên dịch viên tại tòa án, tuy vậy cho tới nay chưa có tài liệu chính phủ nào được lấy làm căn cứ cho việc xác định, đào tạo hay đánh giá tiêu chuẩn của phiên dịch pháp lý.

  Nguồn cung cấp việc làm của phiên dịch viên NNKH

Một cuộc khảo sát do SLIANZ tiến hành năm 2005 xác định được 87 phiên dịch đủ trình độ, những người được biết là đã làm việc trong thời gian từ 2004-2005. Báo cáo khảo sát cho thấy 61 % số người này sống ở thành phố lớn nhất là Aukland, cũng là nơi có số lượng người điếc nhiều nhất. Tỉ lệ số phiên dịch so với số người điếc ở Auckland là 1:23, còn ở Wellington và Waikato (ở Đảo Bắc) là 1:50, trong khi ở các thành phố phía nam nơi mật độ dân số ít hơn thì phải chịu sự thiếu hụt phiên dịch với tỉ lệ trung bình là 1:250 (Fitzgerald, 2004; dựa trên số liệu được cung cấp bởi Hội người điếc NZ và SLIANZ).

Trong thành phần khảo sát, 81% có thu nhập từ công việc tự do hoặc các hợp đồng không cố định, số còn lại kết hợp việc làm bán thời gian cố định và công việc tự do. Các vị trí phiên dịch có lương là rất hiếm ở NZ, thường chỉ có ở trường điếc, văn phòng Hội người điếc, trường đại học, hoặc cơ quan chính phủ có tuyển dụng người điếc. Để có được một thu nhập ổn định lâu dài, phần lớn các phiên dịch làm các công việc kết hợp ở các lĩnh vực cộng đồng (sức khỏe ban đầu, sức khỏe tâm thần, pháp lý, họp/ hội nghị), đào tạo nâng cao, và đôi khi là những tổ chức có tuyển dụng người điếc (Patterson & Hackshaw, 2006).

Đào tạo phiên dịch và hệ thống bằng cấp về phiên dịch NNKH

Ở NZ đào tạo phiên dịch NNKH NZ với thời gian 2 năm tập trung đối với người chưa biết ngôn ngữ kí hiệu. Trong đó, năm thứ nhất tập trung chuyên sâu vào việc học NNKH NZ và đạt được các hiểu biết thực tế và khái niệm về cộng đồng và văn hóa điếc. Năm thứ 2 là trau truốt thêm kỹ năng NNKH NZ, bao gồm việc phân tích so sánh giữa NNKH NZ và cấu trúc tiếng Anh, và giới thiệu các mô hình và kỹ thuật phiên dịch, các kiến thức ngữ cảnh, quy chuẩn nghề nghiệp, thuyết trình công cộng ở cả hai ngôn ngữ, và nhận thức về kỹ năng giao tiếp cá nhân. Năm thứ 2 kết thúc với việc thực hành phiên dịch.

Dân số ít ỏi của NZ và lịch sử của cộng đồng NNKH NZ mang đến cả cơ hội và thách thức trên con đường đạt đến chất lượng tốt nhất và tính chuyên nghiệp của công tác đào tạo phiên dịch. Việc thiết lập hình thức đào tạo chính thức cho giảng viên người điếc NNKHNZ từ năm 1997 đã cải thiện tiêu chuẩn đầu vào của học viên phiên dịch, qua các lớp học cộng đồng.

Nghề và đào tạo nghề phiên dịch ở Nhật Bản

Mặc dù Nhận Bản là nước có nền công nghiệp phát triển, song phiên dịch NNKH vẫn chưa được coi là nghề chuyên nghiệp trong thời gian dài. Điều này một phần là do tập tục và quan điểm kỳ thị người khuyết tật nói chung và người điếc nói riêng tại thời điểm đó. Cho đến những năm 1950, người điếc vào giáo viên trường điếc, với sự trợ giúp của các nhóm tại cộng đồng như Câu lạc bộ Sư tử, đã tổ chức các lớp học công cộng và các hội thảo cơ bản cho những người hướng dẫn tuyến xe buýt ở nhiều vùng trên nước Nhật. Tuy vậy, các chương trình này chỉ để giúp người nói biết được về NNKH. Mọi việc bắt đầu thay đổi vào năm 1963 khi một số công dân tình nguyện tự nhóm lại và đặt tên nhóm là Mimizuku (con cú tai dài) và bắt đầu tổ chức các cuộc gặp gỡ thường xuyên. Mục đích của họ là học NNKH, kết bạn với người điếc và tham gia vào các hoạt động của người điếc và xây xựng một xã hội tốt đẹp hơn.

Liên đoàn người điếc Nhật Bản (JFD), đặc biệt là Ban thanh thiếu niên của Liên đoàn, đã nắm cơ hội để hỗ trợ hết mình cho nhóm Mimizuku mới nổi lên. Sau này một nhóm có tổ chức của các phiên dịch NNKH đã xuất hiện lần đầu tiên tại Nhật Bản. Họ là thành viên của Mimizuku, đã được đào tạo kỹ lưỡng trở thành các phiên dịch. Kinh nghiệm này ở Kyoto nhanh chóng lan rộng ra khắp các vùng của Nhật với sự hỗ trợ của Ban thanh thiếu niên của JFD. Các nhóm này phát triển rất nhanh và thu được nhiều sự chú ý của thông tin đại chúng. Qua thời gian các nhóm tình nguyện này (gọi chung là mạng lưới NNKH mặc dù các nhóm có tên rất đa dạng) nổi lên khăp nước Nhật.

JDF là cơ quan cấp quốc gia của người điếc được tổ chức lại sau Chiến tranh thế giới thứ II. Đây là một tổ chức dân chủ với mục đích hướng đến sự độc lập và tự chủ của người điếc. JDF yêu cầu một hệ thống phiên dịch NNKH chính thức được chính phủ cấp kinh phí và việc xây dựng các trung tâm của người điếc tại cộng đồng địa phương của họ. Nhưng ở một xã hội vẫn còn đầy tập quán và quan điểm kỳ thị người khuyết tật nói chung, chính phủ đã không phê duyệt một yêu cầu nào cả.

Vào năm 1970, một chương trình đào tạo các tình nguyện viên NNKH, Dự án Tình nguyện viên NNKH, đã được khởi động. Họ được gọi là các tình nguyện viên, nhưng trên thực tế đó là hệ thống sơ khởi của chương trình đào tạo phiên dịch NNKH được chính phủ tài trợ. Các chính quyền khu vực tiến hành các lớp học NNKH công cộng này với 50% kinh phí từ chính phủ.

Chính phủ thiết lập thêm hai dự án nhằm sử dụng những người đã hoàn thành các lớp học tình nguyện năm 1970:

Dự án 1: Dự án tạo việc làm cho phiên dịch NNKH (1973). Dự án 1 đưa các tình nguyện viên NNKH đến các cơ quan bảo trợ xã hội để phiên dịch khi có người điếc đến làm việc.

Dự án 2: Dự án phân bổ tình nguyện viên NNKH (1976). Dự án 2 được thiết kế để đăng ký và cử các tình nguyện viên NNKH đến các bệnh viện, công sở và trường học mỗi khi có người điếc cần được phiên dịch.

Chính quyền địa phương điều hành cả hai dự án với 50% vốn kinh phí do chính phủ cấp.

Ở Nhật, phiên/biên dịch ngôn ngữ nói được đào tạo tại trường cao đẳng, trung cấp, trường dạy nghề, v.v. Các khóa này là một phần trong đào tạo ngoại ngữ. Đào tạo Phiên dịch NNKH lại thuộc về các chương trình phúc lợi xã hội. Các phiên dịch NNKH được coi như các nhân viên công tác xã hội hơn là phiên dịch ngôn ngữ. Người điếc được nhìn nhận từ góc độ khuyết tật của họ hơn là một đối tượng sử dụng ngôn ngữ.

Vào năm 1990 Trường Phục hồi quốc gia tổ chức khóa đào tạo phiên dịch NNKH đầu tiên tại một cơ sở giáo dục nâng cao của Nhật. Khóa học 2 năm với 40 học viên dành cho các học sinh đã tốt nghiệp trung học. Điều kiện được tuyển vào không bắt buộc phải biết NNKH, và trong 2 năm học, sinh viên sẽ được đào tạo về phiên dịch. Vào cuối khóa học, học viên được mong đợi sẽ sẵn sàng cho việc lấy Bằng phiên dịch NNKH quốc gia. Tuy nhiên họ phải đỗ kỳ thi tốt nghiệp.

Ngày nay, có một trường cao đẳng tư thục khác tổ chức khóa học 4 năm, một trường dạy nghề tư thục có khóa học 2 năm cho 30 học viên. Giáo trình và phương pháp giảng dạy của các khóa học là khác nhau.

Giáo trình đào tạo phiên dịch

Mặc dù các khóa đào tạo chuyên sâu đã bắt đầu từ năm 1990, nhưng tới nay các phiên dịch đã đăng ký hành nghề – những người đã được đào tạo từ những khóa học công cộng ban đầu vẫn đảm đương phần lớn lượng công việc phiên dịch ở Nhật.

Vào năm 1998, Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội thông báo dự án đào tạo phiên dịch NNKH mới. Dự án này dựa trên một dự án nghiên cứu kéo dài 1 năm tiến hành bởi một nhóm người điếc, phiên dịch NNKH và các nhà nghiên cưu do Bộ chỉ định. Bộ cũng gia hạn dự án Đào tạo tình nguyện viên NNKH và xác định cụ thể khung thời gian đào tạo, bằng cấp của học viên và giảng viên, mục đích và giáo trình giảng dạy như sau:

  1. Dự án đào tạo tình nguyện viên ngôn ngữ kí hiệu. Học viên ở trình độ bắt đầu và chưa có liên hệ nào với cộng đồng điếc hay NNKH. Mục đích là NNKH hội thoại. Giáo trình yêu cầu 80 giờ học trên lớp.
  2. Dự án đào tạo phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu. Điều kiện đầu vào bắt buộc của học viên là phải giao tiếp được với người điếc bằng NNKH. Mục đích chương trình là cung cấp cho học viên các kỹ năng phiên dịch cơ bản. Giáo trình đòi hỏi 90 giờ học trên lớp

Hệ thống giáo trình và kiểm tra được thiết kế riêng cho từng khóa học, đó cũng là một bước tiến. Hệ thống kiểm tra bắt đầu vào năm 2001, với tỉ lệ tốt nghiệp trung bình khoảng 30% (trong 6 năm cho đến 2006).

Hệ thống bằng cấp

Vào năm 1989, Chứng chỉ phiên dịch NNKH quốc gia được thiết lập. Đây không phải là một bằng cấp của chính phủ, nhưng được cấp bởi một tổ chức được Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội phê chuẩn. Từ 1989 đến 2006, 1.789 người đã đỗ kỳ thi này. Nhiều trong số đó là thành biên của Hội phiên dịch NNKH Nhật Bản (JASLI), thành viên đại diện quốc gia của Hiệp hội phiên dịch NNKH thế giới (WASLI).

Trong năm 1998, một số lĩnh vực đã tiến hành thi kiểm tra độc lập, được hỗ trợ bởi chính phủ. Năm 2001, Trung tâm nghiên cứu NNKH quốc gia thống nhất các kỳ thi này và thiết lập một kỳ thi mới. Nội dung, phương pháp phân chia cấp bậc, và quy định cấp độ đỗ/trượt giờ đây đã được thống nhất trên toàn Nhật Bản. Kết quả là ngày càng nhiều địa phương đã dừng hệ thống thi tuyển của mình và tham gia vào hệ thống thi tuyển thống nhất. Mong đợi trong tương lai gần tất cả 47 quận hạt trên cả nước sẽ cùng tham gia. Kỳ thi bao gồm bốn phần:

  1. Thi viết

– Kiến thức cơ bản cần thiết cho các hoạt động phiên dịch NNKH

– Kiến thức ngôn ngữ nói Nhật Bản

  1. Kỹ năng phiên dịch

– Kỹ năng phiên dịch trong nhiều ngữ cảnh

– Khả năng tóm tắt bằng tiếng Nhật nói các bài phát biểu bằng NNKH

Từ năm 2001, đã có 1.324 người đỗ kỳ thi này

Sử dụng hai hình thức nói trên, có khoảng 3,000 phiên dịch được chứng nhận hiện đang hoạt động ở Nhật. (Không xác định được số lượng người đã đỗ các kỳ thi quốc gia trước năm 2001)

Có hai tổ chức phiên dịch NNKH chính ở Nhật: NRASLI và JASLI

Zentsuuken:  Hội nghiên cứu quốc gia về phiên dịch NNKH (NRASLI)

Thành lập năm 1974 cho các thành viên là người nói. Nếu bạn có chung mục đích với tổ chức thì không nhất thiết phải biết NNKH. Kết quả là các thành viên hội bao gồm sinh viên NNKH, phiên dịch, nghiên cứu viên, v.v. Có một sự đa dạng về hoạt động từ nghiên cứu các nguyên tắc phiên dịch NNKH và phiên dịch các câu chuyện thực tế cho đến các hoạt động vì sự thừa nhận phiên dịch NNKH trong cộng đồng tại phương. Trong năm 2007, có khoảng 11.000 thành viên và chi nhánh ở cả 47 quận hạt.

Hội những người phiên dịch NNKH Nhật bản (JASLI)

JASLI thành lập năm 1991. Để đủ tiêu chuẩn bạn cần phải qua kỳ thi lấy chứng chỉ quốc gia về phiên dịch NNKH. Là hội viên không phải là bắt buộc, mặc dù 85%  phiên dịch có đăng ký là thành viên của hội. Nhiều thành viên của JASLI cũng là thành viên của NRASLI. JASLI tập trung vào việc tổ chức các hội thảo nhằm nâng cao kỹ năng phiên dịch cũng như nâng cao vị thế xã hội và môi trường làm việc của phiên dịch NNKH.

NRASLI và JASLI có mối liên hệ công việc rất hiệu quả. Họ cùng làm việc với JDF nhằm đến hàng loạt mục tiêu như “hòa nhập hoàn toàn và công bằng” cho người điếc.

Môi trường làm việc của phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở Nhật

Số lượng các phiên dịch NNKH chuyên nghiệp ở Nhật ước tính khoảng 1,400 người theo nghiên cứu quốc gia của NRASLI năm 2005. 46% làm việc ở các cơ quan thuộc chính phủ, 27% tại các tổ chức tư nhân như các trung tâm phân phối phiên dịch, và 12% tại các văn phòng tuyển dụng địa phương.

CHỉ 16% là các nhân viên toàn thời gian, vì vậy cần thiết phải cải thiện điều kiện làm việc của họ. Việc thảo luận về điều trị y tế, việc học hành của trẻ em, và điều kiên làm việc luôn là các yêu cầu thường thấy của các phiên dịch. Gần đây, ngày càng có nhiều người điếc tham gia học đại học/ cao đẳng, vì vậy nhu cầu về việc phiên dịch trên lớp đã tăng lên.

Trung tâm nghiên cứu Ngôn ngữ kí hiệu quốc gia (NSLRC)

Năm 2002, NSLRC đã được thành lập ở Kyoto nhằm cải tiến tài liệu giảng dạy và đào tạo giáo viên. Việc này đã thực hiện được với sự phối hợp của chính quyền trung ương và địa phương, với JDF, NRASLI, và JASLI. Trung tâm tiến hành nghiên cứu về NNKH và phiên dịch và hỗ trợ nhiều hoạt động khác nhau trên cả nước. Mục đích của Trung tâm là xây dựng một hệ thống đào tạo phiên dịch quốc gia thống nhất và toàn diện. Các dự án và chương trình chính của trung tâm bao gồm:

  • Tạo ra các ký hiệu mới và xây dựng các nghiên cứu về NNKH Nhật Bản, bao gồm việc thu thập và bảo tồn các ký hiệu truyền thống tìm thấy từ các cộng đồng địa phương
  • Xây dựng một giáo trình đào tạo phiên dịch NNKH và đào tạo giảng viên
  • Xây dựng, triển khai và điều chỉnh các tài liệu như sách giáo khoa cho nhiều cấp khác nhau
  • Tổ chức các hội thảo cho phiên dịch NNKH và các giảng viên của họ
  • Tổ chức các kỳ thi kiểm tra phiên dịch NNKH thống nhất
  • Tổ chức các kỳ thi kiểm tra NNKH cấp quốc gia

Cùng với việc đào tạo phiên dịch NNKH, ở Nhật đã bắt đầu tiến hành kỳ kiểm tra NNKH quốc gia từ năm 2006. Đây là một cách khuyến khích quần chúng tìm hiểu về NNKH. Đây không phải là đánh giá khả năng phiên dịch, mà là cách kiểm tra xem người học giao tiếp với người điếc bằng NNKH tốt như thế nào. Việc này sẽ khuyến khích học viên vươn tới các mục tiêu cao hơn và khuyến khích ngày càng nhiều người nói học NNKH.

Số lượng người học NNHKH hàng năm vượt quá 200.000 người. Số này bao gồm các các thành viên “mạng lưới” những người rất tích cực truyền bá NNKH; học viên của các hội nghị chuyên đề về NNKH được tiến hành hàng năm tại từng quận hạt cho những người mới học; khán giả các chương trình truyền hình như chương trình “Ký hiệu cho người mới học” của kênh NHK; và khán giả của các chương trình truyền hình trả tiền được sản xuất vởi các tổ chức phi lợi nhuận như “Hệ thống phát thanh truyền hình thống nhất cho người khuyết tật” được JDF hậu thuẫn. “Kỳ thi kiểm tra NNKH toàn Nhật Bản” nhắm vào các đối tượng này.

Số người tham gia kỳ kiểm tra lần 2 là 3000 người năm 2007, lần thứ 3 năm 2008 là hơn 5000 người, và sẽ đạt tới con số 10.000 người trong tương lai gần. Mục đích là đảm bảo có đủ số người nói có thể giao tiếp bằng NNKH để mọi người không phải lệ thuộc hoàn toàn vào phiên dịch NNKH.

Nghề và đào tạo nghề phiên dịch ở Hoa Kỳ

Tại Hoa Kì, Phiên dịch giáo dục là nghề chính thức và phát triển trong các trường học, trường cao đẳng và đại học ở Hoa Kì. Mặc dù Thomas Hopkins Gaullaudet đã làm phiên dịch viên giáo dục cho Laurent Clerc từ đầu những năm 1800 và nghề phiên dịch  đã trở nên phổ biến trong các trường học cho người điếc nhiều thập kỉ qua song ngày nay việc sử dụng phiên dịch viên giáo dục trở nên phổ biến hơn bao giờ. Sự phát triển này phần lớn là do hàng loạt các đạo luật xã hội và pháp lý ra đời trong những năm 1970, 1980 và 1990 cho phép học sinh điếc và nghễnh ngãng chuyển từ những chương trình chuyên biệt, trường nội trú và chương trình cao đẳng dành cho người Điếc sang những trường học và chương trình cao đẳng địa phương (Dahl & Wilcox, 1990; Gustason, 1985; Zawolkow & DeFiore, 1986).  Ngày nay, xu hướng hòa nhập: học sinh Điếc học cùng  học sinh nghe bình thường trong một lớp đã trở nên phổ biến.  Hòa nhập là trở thành một thành phần chính thức của lớp học bình thường, thụ hưởng hoàn toàn cả giáo dục đặc biệt và giáo dục phổ thông và những nỗ lực hợp tác giữa giáo viên phổ thông và những người cung cấp dịch vụ đặc biệt để làm cho chương trình trở nên phù hợp với tất cả học sinh  (Briton, Fujiki, Montague & Hanton, 2000; Sailor, Gee, & Karasoff, 1993).

Báo cáo Thường niên 23 do Bộ Giáo dục Hoa Kì gửi Quốc hội về thi hành Đạo Luật Giáo Dục Người Khuyết Tật (2001) cho biết có gần 72,000 học sinh khiếm thính từ 6 đến 21 tuổi. Con số này cho thấy so với thập kỷ trước số học sinh khiếm thính đã tăng khoảng 21%. Số liệu nhân khẩu học cho thấy có khoảng 83% học sinh điếc học hoà nhập hoặc hội nhập. Báo cáo năm 2000 của Hiệp hội quốc gia các chương trình giáo dục đặc biệt cấp bang (National Association of State Directors of Special Education -NASDSE) có khoảng 24,000 hoặc gần 1/3 số học sinh điếc và nghễnh ngãng đang học ở các lớp từ mầm non đến lớp 12 hòa nhập được hưởng dịch vụ phiên dịch giáo dục; hơn một nửa số học sinh khiếm thính học nội trú và sinh viên đại học cũng được hưởng dịch vụ phiên dịch. Điều này cho thấy, công cụ giáo dục cơ bản đối với những học sinh hòa nhập và cả học sinh học chuyên biệt là ngôn ngữ kí hiệu.

Từ những nhu cầu trên, ở Hoa Kỳ, Phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu đã là một nghề và các trường đại học đã có khoa đào tạo nghề phiên dịch ở các cấp độ khác nhau từ sơ cấp đến đại học và sau đaoị học, theo một qui trình chặt chẽ.

Đánh giá nội dung 1:

  1. Hãy phân tích nghề và đào tạo nghề phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở New Zealand, Nhật Bản và Hòa kỳ

       2. Hãy đề xuất hướng phát triển đào tạo phiên dịch ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam