Mô đun 2: MÔ HÌNH HỖ TRỢ TRẺ ĐIẾC TRƯỚC TUỔI HỌC ĐẾN TRƯỜNG (1)

(Tổng số 15 tiết: 10 tiết lý thuyết – 5 tiết thực hành)

Bài 1: Khái quát Mô hình thí điểm của dự án

“Giáo dục trẻ điếc trước tuổi đến trường”

  1. Mục tiêuSau khi học xong học viên có khả năng:
  • Nêu được mô hình thí điểm hỗ trợ trẻ điếc trước tuổi đến trường của dự án “Giáo dục trẻ điếc trước tuổi đến trường – IDEO”
  • Nêu được thành phần của nhóm hỗ trợ gia đình.
  • Nêu được vai trò và nhiệm vụ của HDVNĐ trong mô hình hỗ trợ đó.
  • Có kỹ năng làm việc nhóm, quan sát, phân tích, tổng hợp.
  1. Thời gian: 2 tiết (Lý thuyết: 2 tiết – Thực hành: 0 tiết)

III. Phương tiện, đồ dùng dạy học

  • Clip minh họa nhóm hỗ trợ làm việc tại gia đình trẻ điếc và trường chuyên biệt.
  • Giấy A0, giấy mầu, băng keo, kéo,..
  1. Nội dung kiến thức

4.1. Mô hình thí điểm: Giáo dục trẻ điếc trước tuổi đến trường sử dụng ngôn ngữ ký hiệu  

Giới thiệu: Dự án “Giáo dục trẻ Điếc trước tuổi đến trường” – IDEO do Quỹ Phát triển Xã hội Nhật Bản (JSDF) tài trợ, được ủy thác thông qua Ngân hàng Thế giới và nguồn vốn đối ứng từ phía Chính phủ Việt Nam; do Tổ chức Quan tâm Thế giới thực hiện, hợp tác với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện tại bốn tỉnh: Hà Nội, Thái Nguyên, Quảng Bình và TP. Hồ Chí Minh từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 8 năm 2015.

Trong khuôn khổ dự án, tài liệu này chỉ mô tả hoạt động của các đối tượng trong nhóm trực tiếp hỗ trợ trẻ điếc, sẽ không mô tả mảng quản lý của mô hình thí điểm giáo dục trẻ điếc trước tuổi đến trường tại các trung tâm dự án.

Hoạt động: Tìm hiểu mô hình thí điểm

  • Đọc tài liệu và mô tả Mô hình thí điểm.
  • Thảo luận nhóm: 2 người.

Thông tin phản hồi cho hoạt động 1:

Dự án đưa ra một cách tiếp cận mới lần đầu tiên được triển khai tại Việt Nam đó là Trẻ Điếc sẽ được học giao tiếp tổng hợp để phát triển nhận thức và giao tiếp theo đúng độ tuổi của mình. Gia đình trẻ Điếc được tiếp cận phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu để có thể trực tiếp hàng ngày hỗ trợ cho con em mình.

Mô hình tập trung vào giáo dục trẻ Điếc phát triển toàn diện trên bốn lĩnh vực: tình cảm xã hội, nhận thức, ngôn ngữ và thể chất thông qua việc sử dụng NNKH là chủ yếu và được can thiệp từ Nhóm hỗ trợ gia đình [3].

Trẻ điếc được chia làm 2 nhóm:

Nhóm trẻ điếc không sử dụng thiết bị trợ thính: những trẻ điếc sâu và điếc nặng, khả năng học nói kém. Nhóm này chủ yếu giao tiếp và học thông qua sử dụng Cử chỉ điệu bộ/Ký hiệu/Ngôn ngữ ký hiệu .

Nhóm trẻ sử dụng thiết bị trợ thính: các trẻ từ điếc nhẹ đến điếc sâu có khả năng học nói và có nhu cầu sử dụng NNKH; trẻ sẽ giao tiếp và học bằng cả ngôn ngữ nói và NNKH.

Chương trình hỗ trợ trẻ điếc chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Trẻ từ 0 đến 3 tuổi – Chương trình Hỗ trợ gia đình.

Hỗ trợ trẻ tại gia đình: Nhóm hỗ trợ gia đình đến nhà, hướng dẫn viên người điếc chơi (có chủ đích) với trẻ như là người làm mẫu; hướng dẫn cha mẹ quan sát và học các ký hiệu để sau đó trực tiếp chơi và dạy con của mình,

Giai đoạn 2: Trẻ từ trên 3 tuổi đến 6 tuổi – Hỗ trợ trẻ học ở lớp mầm non của các trường chuyên biệt/trung tâm hoặc trường hòa nhập.

  • Hỗ trợ tại trường/trung tâm: Trẻ được hỗ trợ học tiết cá nhân/nhóm tại trường/trung tâm và do hướng dẫn viên người điếc trong Nhóm hỗ trợ gia đình dạy.
  • Hỗ trợ tại gia đình: Nhóm hỗ trợ gia đình đến nhà, hướng dẫn viên (người điếc) chơi và dạy trẻ, hướng dẫn cha mẹ học ký hiệu và phương pháp dạy trẻ.

Nhóm hỗ trợ gia đình:

Nhóm HTGĐ bao gồm: Hướng dẫn viên người điếc, phiên dịch NNKH, giáo viên dạy nói. Tùy theo nhu cầu và khả năng của từng trẻ Nhóm hỗ trợ sẽ có kế hoạch hỗ trợ gia đình hoặc kế hoạch giáo dục cá nhân cho từng trẻ; từ đó xác định nhiệm vụ của từng thành viên trong nhóm để hỗ trợ cho trẻ. Không phải giờ học nào nhóm cũng đầy đủ ba thành viên trên.

Yêu cầu khi thực hiện dự án: 1) Hướng dẫn viên người điếc được tập huấn để phát triển kế hoạch bài học và các hoạt động để kích thích sự phát triển của trẻ, cũng như để quan sát sự phát triển của trẻ Điếc và xác định sự tiến bộ trong quá trình phát triển của trẻ. 2) Phiên dịch NNKH được đào tạo về lý thuyết và các kỹ thuật liên quan đến phiên dịch/giải thích giữa ngôn ngữ nói và NNKH Việt Nam. 3) Giáo viên được tập huấn về kỹ năng dạy phát âm/trị liệu ngôn ngữ để có khả năng phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ sử dụng song ngữ.