MÔ ĐUN 2 – CHỦ ĐỀ 3: GIAO TIẾP VÀ CÁC MÔ HÌNH PHIÊN DỊCH (Phần 3 )

Nội dung 3: Phiên dịch viên ngôn ngữ kí hiệu nhìn từ góc độ người điếc

Nhiệm vụ của học viên: Nghiên cứu và trả lời câu hỏi dưới đây

  1. Tên gọi bằng kí hiệu có những đặc điểm gì cần lưu ý?
  2. Cần giảm thiểu ngôn ngữ nói trong dịch thuật thế nào? .

Thông tin nguồn cho nội dung 3:

Đa số các phiên dịch viên biết đến cộng đồng người Điếc khi họ bắt đầu đi học ngôn ngữ kí hiệu. Họ sớm nhận ra rằng người Điếc, những người sử dụng loại ngôn ngữ mà họ đang học, có một nền văn hóa riêng biệt của mình, và văn hóa đó khác với văn hóa của những người mới bắt đầu học ngôn ngữ này. Nhiều khi văn hóa điếc được thể hiện qua những gì có thể thấy dễ dàng, mang tính tượng trưng và thói quen: làm thế nào để thu hút sự chú ý của người khác, sự quan trọng của ánh sáng, điện thoại có chức năng nhắn tin dành cho người Điếc, thậm chí là giá trị của sự đồng lòng tập thể. Nhưng văn hóa còn có nhiều ý nghĩa hơn thế. Đó là ý thức bạn là ai, ý thức về gốc rễ, sự liên kết giữa những người có cùng cách suy nghĩ như bạn. Bienvenu (1990: 12) đã nói: “Văn hóa là cuộc sống của mỗi con người – cách mỗi người sống, suy nghĩ, ăn uống, sử dụng ngôn ngữ, giao lưu kết bạn, là cái để xác định giá trị của mỗi con người, đức tin mà họ theo đuổi, cách xử sự và danh tính của mỗi người – tất cả những điều trên tạo nên bản sắc văn hóa. Chúng ta là sản phẩm của nền văn hóa của mình, và nền văn hóa đó định nghĩa chúng ta là ai”. Những người Điếc không phải học điều này – họ sống trong nền văn hóa này mỗi ngày. Nhưng những người muốn “ghé thăm” đều phải học, và những ai có ý định làm phiên dịch viên cho người Điếc thì càng phải tìm hiểu kĩ hơn ai hết.

Những chủ đề sẽ nói tới sẽ được chia làm 3 mục chính như sau: 1) Những vấn đề về văn hóa, 2) Những vấn đề về ngôn ngữ, 3) Những vấn đề về dịch thuật. Tuy nhiên, trong từng chủ đề sẽ có những yếu tố liên quan đến các chủ đề kia. Ví dụ như khi chúng ta nghiên cứu về việc đặt tên kí hiệu cho mỗi người. Mặc dù đây rõ ràng là một vấn đề văn hóa nhưng cũng mang theo yếu tố ngôn ngữ do bản chất ngữ nghĩa của tên kí hiệu. Nó còn liên quan đến các vấn đề dịch thuật do việc dùng tên chính thức và tên kí hiệu trong quá trình dịch.  Đây chỉ là 1 ví dụ, tuy nhiên khi chúng ta nghiên cứu sâu thêm, những sự chồng chéo thế này sẽ càng được thấy rõ. Sau khi kết thúc phần thảo luận về ba chủ đề rất rộng nói trên, tôi sẽ kết thúc với một số đề xuất về việc làm thế nào để cộng đồng người Điếc và cộng đồng PDV có thể cùng nhau tìm ra giải pháp cho những vấn đề còn tồn đọng liên quan đến văn hóa nói trên.

Một vấn đề về văn hóa: Tên kí hiệu

Các phiên dịch viên sẽ gặp phải những vấn đề về văn hóa ở khắp nơi. Một khía cạnh quan trọng của một nền văn hóa là cách gọi một người như thế nào, và trong phần này chúng ta sẽ tập trung vào việc dùng tên kí hiệu trong cộng đồng người Điếc và cho những “người bên ngoài”.

Tên kí hiệu là một phần không thể tách rời của văn hoá Điếc, và trong suốt một thời gian dài một thắc mắc tại sao chúng lại được dùng để đặt tên cho những người không phải Điếc, ai là người đặt các tên kí hiệu cho họ, và chúng được sử dụng như thế nào.

Tên kí hiệu chỉ nên được công đồng Điếc đặt cho một người sau khi các thành viên của cộng đồng này đều đã quen thuộc với người đó. Người nói thường chọn hoặc được nhận một tên kí hiệu mang đôi chút ý nghĩa văn hóa đặc trưng cho cá nhân mình. Ở một số nền văn hóa khác, được ban cho một cái tên là việc vô cùng nghiêm túc. Tại nhiều các bộ lạc thổ dân, họ có những nghi thức rất lâu đời về việc ban tên cho người khác, thường đi kèm với một buổi lễ đặt tên, ví dụ như bộ lạc Menominee (Wiconsin): “Trong vòng 1 năm đầu đời, mọi đứa trẻ đều phải được đặt tên. Một bô lão trong làng sẽ là người làm việc này, cha mẹ đứa bé sẽ tổ chức 1 buổi tiệc cho nghi lễ này, buổi tiệc sẽ phải có thức ăn và không gian cho nhiều người nhất có thể. Bô lão được chọn sẽ rất nghiêm túc trong việc này, thậm chí có thể suy nghĩ tên gọi trong vòng nhiều tháng. Chỉ khi bô lão này sẵn sàng buổi tiệc mới được bắt đầu. Sau khi ăn tiệc xong, đứa trẻ sẽ được bế lên và bô lão sẽ đặt tên cho đứa trẻ, sau đó sẽ giải thích tại sao lại chọn cái tên này và cầu mong các linh hồn sẽ phù hộ đứa trẻ. Thông thường những cái tên được chọn là để tượng trưng cho 1 tố chất đặc biệt người ta thấy ở đứa trẻ, hoặc có thể là tên của 1 người đã khuất với hy vọng linh hồn của người đó quay trở lại qua đứa trẻ. Điều này là rất quan trọng bởi nếu đứa trẻ không thích cái tên đó, nó có thể quay trở lại với thế giới tâm linh. (Spindler & Spindler 1977: 441).

Mặc dù vấn đề này mang tính nghi lễ với người Menominee nhiều hơn là với người Điếc, nhưng tên và việc đặt tên trong cộng đồng Điếc cũng rất được coi trọng. Supalla (1992) cho rằng việc được nhận một tên kí hiệu giống như đón nhận một giấy thông hành với ý nghĩa đặc biệt: “Tên kí hiệu có ý nghĩa rất lớn đối với một người Điếc, bởi nếu ko có nó, họ không có cách nào để xác định bản thân và mọi người… Sở hữu một tên kí hiệu là bước đánh dấu để trở thành mộtthành viên của cộng đồng người Điếc” (Supalla 1992: 16). Hai tác giả McKee và McKee (2000) cũng cho rằng có được 1 tên kí hiệu là chìa khóa mở cửa để gia nhập cồng đồng và “việc sử dụng tên ký hiệu củng cố thêm sự gắn kết giữa lịch sử chung của cộng đồng và việc sử dụng ngôn ngữ “thay thế” (liên quan đến cộng đồng xã hội đa số)” (2000:3).

Việc đặt tên kí hiệu cho những học sinh năm đầu tiên của các khoá học ngôn ngữ kí hiệu là đi ngược lại với quy tắc của văn hoá cộng đồng Điếc. Những học sinh này chưa thiết lập được mối quan hệ trong cộng đồng người Điếc để có thể được đặt tên như vậy. Thông thường những cái tên này được đặt theo một tính cách nổi bật hoặc vẻ một bề ngoài dễ nhận thấy để họ có thể giao tiếp dễ dàng hơn trong lớp. Tuy nhiên việc này có 2 vấn đề. Thứ nhất, việc đặt tên thế này không đúng với cách những người Điếc đặt tên cho nhau trong văn hóa điếc. Thứ hai, những cái tên đó của các học sinh không mang chút ý nghĩa về văn hóa nào. Tốt hơn hết, những giáo viên dạy ngôn ngữ kí hiệu nên thường xuyên đánh vần chữ cái ngón tay tên của học sinh. Như thế sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng diễn đạt và tiếp nhận thông tin, những kĩ năng thường rất yếu trong thời gian bắt đầu học. Học sinh sẽ phải đợi đến khi họ tham gia nhiều hơn vào cộng đồng Điếc lớn trước khi được nhận một tên kí hiệu.

Một vấn đề khác luôn nhận thấy đó là rất nhiều người nói học ngôn ngữ kí hiệu nghĩ rằng tên kí hiệu liên quan đến một cái tên cụ thể chứ không phải liên quan đến người sở hữu cái tên đó. Ví dụ, nếu một người tên Vincent, và tên kí hiệu của anh ta là một chữ [V] đặt trên trán, thì không có nghĩa là tất cả những ai tên là Vincent sẽ có tên kí hiệu giống như vậy. Các học sinh đôi khi nhầm tưởng rằng tên của họ giống nhau thì tên kí hiệu của họ cũng sẽ giống nhau, điều đó là sai. Thay vào đó, tên kí hiệu của mỗi người được đặt riêng cho từng người.

Nhiều người cho rằng việc đặt tên kí hiệu cho những học sinh người nói mới học NNKH cũng giống như việc đặt tên kí hiệu cho những học sinh Điếc khi đi học trường dành cho người Điếc, nhưng hai điều này thực ra không hề giống nhau. Những học sinh Điếc kia sẽ trở thành thành viên của cộng đồng Điếc, đã biết hoặc đang học ngôn ngữ kí hiệu với tư cách là ngôn ngữ thứ nhất của mình, và được xác định danh tính bằng tên ký hiệu bởi các bạn Điếc khác. Meadow (1977) tìm hiểu về vấn đề tên ký hiệu được đặt như thế nào và thấy rằng, trong khi một số trẻ điếc được đặt tên kí hiệu bởi giáo viên hay tư vấn viên, thì phần lớn các em được chính những bạn điếc cùng học tại trường Điếc đặt tên cho. Meadow cho rằng việc này có ý nghĩa rất lớn trong việc giao lưu của trẻ em trong cộng đồng Điếc, khi mà phần lớn các em học NNKH từ các bạn Điếc cùng học.

Rất nhiều phiên dịch viên được bạn học cùng lớp NNKH hoặc giáo viên NNKH đặt tên kí hiệu cho, hoặc họ tự chọn lấy tên cho mình. Trong trường hợp đó, họ phải hết sức thận trọng trong việc dùng tên đó khi lần đầu tiên được giới thiệu với cộng đồng người Điếc. Điều đầu tiên cần phải làm là kiểm tra xem tên kí hiệu đó có bị trùng với tên của bất kì ai khác trong cộng đồng Điếc không. Nếu bị trùng, phiên dịch viên nên hiểu rằng tên của họ có thể sẽ không được chấp nhận, khi đó PDV nên đánh vần chữ cái ngón tay tên của mình cho đến khi được thành viên trong cộng đồng chọn cho một tên kí hiệu khác. Nếu tên không bị trùng, phiên dịch viên nên chuẩn bị sẵn sàng để giải thích tại sao lại có cái tên đó, và sau đó tên của họ có thể được chấp nhận hoặc cuối cùng lại phải thay đổi. Nếu nghi ngờ tên ký hiệu của mình là không phù hợp thì tốt nhất nên sử dụng tên bằng đánh vần chữ cái ngón tay.

Một khi đã nhận được tên kí hiệu của mình, việc sử dụng tên đó thế nào và ở đâu vẫn cần phải được lưu ý. Sử dụng sai có thể gây ra những hiểu lầm. Đã có một lần tôi nói chuyện với 1 người và tưởng rằng đó là người Điếc khi cô ấy dùng tên kí hiệu để tự giới thiệu mình và không cho thấy một dấu hiệu nào về việc mình không phải người Điếc, và sau đó tôi đã rất ngượng khi biết rằng cô ấy là người nói.

Đã từ rất lâu chúng ta đã sử dụng sai và hiểu sai tập tính văn hóa của việc đặt tên kí hiệu, và tầm quan trọng của nó trong cộng đồng người Điếc. Các con của chung ta là người nói và đều có tên kí hiệu riêng của chúng, tuy nhiên cũng như việc các trẻ nói khác có tên thân mật (tên hiệu) được dùng trong một môi trường quen thuộc của mình, thì các tên ký hiệu này cũng chỉ được dùng ở môi trường quanh bạn bè và gia đình. Còn ở những nơi khác như với đồng nghiệp khi làm việc hoặc ở những sự kiện trang trọng hơn, ta sẽ đánh vần chữ cái ngón tay của tên của các con mình. Thông lệ này thậm chí được áp dụng cả với tên ký hiệu của cả các thành viên cộng đồng Điếc.

Tương tự như với các đặc trưng văn hoá Điếc, hay việc sử dụng các hình thái NNKH và ngữ pháp, phiên dịch viên cần chú ý sử dụng tên kí hiệu một cách phù hợp. Điều này có nghĩa nên thường xuyên để ý cách mà những người trong cộng đồng Điếc sử dụng chúng, và hỏi các thành viên trong cộng đồng xem mình đã sử dụng đúng cách chưa. Phiên dịch viên nên tìm hiểu về văn hóa điếc trước khi bắt đầu làm việc, nội dung về văn hóa Điếc phải được đưa vào chương trình đào tạo PDV ngay từ đầu (Miller & Matthews 1986). Đối với người Điếc, sự hiểu biết về văn hóa còn được đề cao hơn khả năng phiên dịch (Bienvenu 1989). Phiên dịch viên cư xử không đúng cách sẽ khiến cho người Điếc không thoải mái. Các vấn đề về tên ký hiệu, được đặt sai cách hay sử dụng không phù hợp sẽ thể hiện sự thiếu hiểu biết về văn hóa Điếc ở cấp độ vô cùng căn bản.

Việc làm thế nào để nói đến một người khi nói chuyện xã giao, hoặc khi phiên dịch cũng là chủ đề cần quan tâm. Hai tác giả McKee và McKee (2000) khi thảo luận về việc dùng tên kí hiệu của cộng đồng Điếc ở New Zealand, đã nhận ra rằng tên kí hiệu chỉ được dùng để chỉ người thứ 3. Cách để thu hút sự chú ý của một người là thông qua hình ảnh mà không phải âm thanh, và không cần phải dùng đến tên ký hiệu của người đó. Khi nói tiếng Anh, có thể dùng tên tục (tên đầy đủ bao gồm họ, tên đệm và tên tục) để chỉ ai đó khi muốn thiết lập mối quan hệ giữa những người đang nói chuyện, tuy nhiên trong cộng đồng người Điếc việc dùng tên tục lại mang mục đích khác. Ví dụ như khi tôi còn nhỏ, mỗi lần giáo viên gọi tôi bằng tên tục, đó là dấu hiệu nghiêm trọng, nghĩa là tôi sẽ phải tập trung chú ý vào điều gì hoặc là tôi sắp bị khiển trách. Cách đây không lâu tôi được sếp gọi lên gặp và cuộc đối thoại của chúng tôi thông qua một phiên dịch viên. Phiên dịch viên bắt đầu bằng việc đánh vần chữ cái ngón tay tên tục của tôi là A-N-G-E-L-A khiến tôi lạnh cả người vì nghĩ rằng mình gặp rắc rối. Thực ra sếp của tôi chuẩn bị nói điều gì đó với tôi và mở đầu bằng việc gọi tên tôi. Nhưng lúc đó tôi không nhận ra rằng việc gọi tên như vậy chỉ là cử chỉ chứng tỏ sự thân mật và thoải mái giữa chúng tôi, nhưng cử chỉ này lại có nghĩa khác nhau trong các nền văn hoá khác nhau. Vì vậy trong trường hợp này, nếu phiên dịch viên đó hiểu biết sâu hơn về cách sử dụng tên như thế nào, cô ấy đã có thể chọn một cách thể hiện phù hợp với văn hoá Điếc hơn như một cái vẫy tay lịch sự hoặc một biểu cảm nét mặt thân thiện.

Vấn đề ngôn ngữ học

Các phiên dịch viên ngoài việc phải học cách sử dụng ngôn ngữ kí hiệu tốt, họ còn phải chủ động lắng nghe những phản hồi và góp ý của những người Điếc về cấu trúc sử dụng ngôn ngữ để có thể diễn đạt rõ nhất ý họ muốn nói. Ở mục này chúng ta sẽ nói về một số vấn đề về cách sử dụng ngôn ngữ mà tôi nghĩ là quan trọng nhất. Một lần nữa đây là chủ đề ngôn ngữ nhưng cũng liên quan đến yếu tố văn hoá và yếu tố dịch thuật.

Các học sinh thường hay cho rằng mọi thành viên của cộng đồng Điếc đều sử dụng ngôn ngữ kí hiệu một cách giống nhau. Có một điều mà những người học ngôn ngữ kí hiệu phải hiểu, đó là có sự khác biệt ngôn ngữ trong cộng đồng Điếc, ví dụ như người Điếc lớn tuổi thường hay sử dụng chữ cái ngón tay, nhiều người Điếc là người song ngữ và hai văn hoá trong khi một số khác lại là người đơn ngữ, hoặc trẻ em thì sử dụng một kiểu ngôn ngữ kí hiệu khác với người lớn. Nhưng rất nhiều người mà NNKH là ngôn ngữ thứ hai chưa đủ thông thạo để nhận ra những sự khác nhau đó và điều chỉnh cách sử dụng ngôn ngữ ký hiệu của họ cho phù hợp với từng tình huống. Có thể hiểu rằng các kỹ năng ngôn ngữ và ngôn ngữ học xã hội này đòi hỏi phải được học hỏi chuyên sâu hơn, nhưng chắc chắn đây là những yêu cầu bắt buộc nếu bạn được coi là một người đủ thành thạo ngôn ngữ để làm một PDV chuyên nghiệp.

Trong các phần dưới đây, những vấn đề về ngôn ngữ được thảo luận cần được nhìn nhận trong bối cảnh ngôn ngữ học xã hội. Quan trọng nhất, những người học ngôn ngữ kí hiệu nên hiểu rằng có một số luật lệ nhất định về cách sử dụng ngôn ngữ liên quan mật thiết đến văn hóa, tuy nhiên tùy theo từng bối cảnh và từng cá nhân mà sự sử dụng có thể khác nhau.

Diễn giải vấn đề

Trong ngôn ngữ kí hiệu, một chủ đề bàn luận sẽ được giới thiệu bằng cách đưa ra những thông tin mà mọi người tham gia có thể hiểu được, hay nói cách khác là những thứ đã quen thuộc với những người tham gia. Các chủ đề sẽ được ký hiệu bằng cách nhướn lông mày và hơi ngửa đầu ra sau một chút (Baker & Cokely 1980). Tuy nhiên nhiều khi không chắc chắn được những thông tin đánh dấu chủ đề này có thật sự rõ ràng đối với mọi người hay không. Trong trường hợp đó, người ký hiệu phải giải thích chủ đề bàn luận để chắc chắn rằng mọi người đều hiểu rõ.

Khi mọi người tham gia thảo luận, họ cần để ý cách những người khác sử dụng ngôn ngữ, cũng như tiếp nhận ý kiến của người khác về cách sử dụng ngôn ngữ của mình nếu muốn cuộc nói chuyện diễn ra suôn sẻ. Khi một chủ đề nói chuyện được công bố và mọi người tham gia đều hiểu, thì cuộc hội thoại sẽ được tiếp tục, sẽ không cần thêm sự giải thích nào nữa. Ví dụ như khi nói chuyện với 1 người bạn và tôi nói rằng mình mới mua được một C-Ă-N H-Ộ bằng cách đánh vần chữ cái ngón tay, và những phản ứng mà tôi nhận được là những cái gật đầu hoặc lời nhận xét kiểu “thật tuyệt!” , khi đó tôi có thể yên tâm là mọi người đã hiểu chủ đề và tiếp tục cuộc nói chuyện.

Vậy một người nói sử dụng NNKH sẽ làm gì khi mọi người không hiểu chủ đề của bạn? Nếu ngay từ đầu chủ đề đã không mang các thông tin quen thuộc, khi đó, người ký hiệu nên kiểm tra với mọi người xem có phải do việc sử dụng ký hiệu địa phương của mình làm mọi người không hiểu không (thường thì những người thành thạo NNKH sẽ biết là mình dùng ký hiệu phù hợp hay không). Một cách khác là có thể đánh vần chữ cái ngón tay. Người tham gia thảo luân có thể không hiểu kí hiệu được sử dụng, nhưng khi đánh vần họ sẽ hiểu dễ hơn. Chữ cái ngón tay có thể là lựa chọn hơi kỳ quặc, nhưng vì một số lý do dưới đây, đây là cách mà tôi khuyến khích. Một khi những người tham gia chấp thuận 1 chủ đề, khi đó diễn ngôn sẽ được tiếp tục. Ví dụ về quá trình diễn giải, một số chủ đề nhất định như giải phẫu cơ thể người, thực vật học hoặc những vấn đề liên quan đến khoa học khác sẽ yêu cầu phải có nhiều bước diễn giải hơn. Một lần nữa, điều này còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của người tham gia. Giả dụ chủ đề đang nói đến “con bọ ngựa” và người tham gia nói rằng họ không biết đó là cái gì. Đó có thể là người đó có biết con bọ ngựa, nhưng không biết ký hiệu từ đó và cả từ đánh vần chữ cái ngón tay. Khi đó cần phải có thêm giải thích và nhiều thông tin bổ sung nữa cho đến khi họ hiểu đươc.

Đã rất nhiều lần chúng ta thấy những người nói sử dụng ngôn ngữ kí hiệu không thể diễn giải chủ đề mà mình muốn nói. Đa phần, họ mặc định là những người Điếc không biết về chủ đề này và ngay lập tức cung cấp thêm thông tin bổ trợ, mà không diễn giải chủ đề một cách phù hợp. Làm như vậy người ký hiệu đã thể hiện thái độ chiếu cố, thậm chí là áp đặt, và như thế là không thể chấp nhận được đối với 1 phiên dịch viên. Mặc dù vậy chúng ta vẫn gặp rất nhiều trường hợp như vậy. Một điều bắt buộc phải nhớ rằng, cộng đồng người Điếc rất đa dạng vì thế việc diễn giải một vấn đề sẽ khác nhau với mỗi người và mỗi sự kiện khác nhau.

Một ví dụ trong Stratiy (1996), minh hoạ cho việc diễn giải dài dòng phức tạp khi người ký hiệu mặc định là người đối diện không hiểu về chủ đề. Một dịp tôi được làm việc với một phiên dịch viên mà người thân của cô ấy mới mất và tôi hỏi lý do vì sao mất. Cô ấy lập tức đi vào giải thích chi tiết những diễn biến của bệnh, người bệnh liên tục bị sụt cân, da càng ngày càng trở nên tái nhợt, vân vân và vân vân. Cuối cùng tôi hiểu rằng người đó bị bệnh ung thư. Tôi không rõ tại sao cô ấy không đánh vần chữ cái ngón tay từ UNG THƯ ngay từ đầu, nhưng chắc tại cô ấy nghĩ không có ký hiệu cho từ ung thư trong NNKH Mỹ nên tôi sẽ không hiểu khi cô ấy đánh vần. Vì vậy cô ấy mới giải thích 1 cách dài dòng gây khó hiểu. Rõ ràng cô ấy đã hiểu sai tình huống khi nói chuyện.

Trong trường hợp như vậy, cô ấy có thể làm gì khác? Điều quan trọng trước hết là không nên tự cho rằng người Điếc sẽ không hiểu 1 thuật ngữ nào đó. Thứ hai, người phiên dịch nên để ý các phản hồi của người Điếc ví dụ như biểu cảm khuôn mặt hay động tác cơ thể và những dấu hiệu rõ ràng khác thể hiện việc hiểu chủ đề của họ. Nếu họ cho biết thuật ngữ được đánh vần chữ cái ngón tay là hiểu được thì có thể tiếp tục câu chuyện, còn nếu không mới cần phải giải thích rõ ràng hơn.

Điều này cũng rất quan trọng trong quá trình phiên dịch. Những người Điếc thường cảm thấy bị xúc phạm khi phiên dịch viên cho rằng họ không hiểu các từ trong ngôn ngữ nói, từ đó mắc lỗi giải thích dài dòng các thuật ngữ trong khi có thể dùng phương pháp đánh vần chữ cái ngón tay.

Việc tự động cung cấp thêm những thông tin phụ về vấn đề khi chưa được yêu cầu cũng là 1 quan niệm sai lầm. Chỉ đơn giản là nói rằng bạn mới mua 1 chiếc áo mới cũng có thể là đủ thông tin để người ta tham gia cuộc nói chuyện, những chi tiết như màu sắc, chất liệu vải hay kiểu dáng áo khi không được hỏi sẽ khiến người nghe cảm thấy bị áp đặt, và chứng tỏ người sử dụng ký hiệu đã không chú ý đến không khí chung của cuộc nói chuyện. Một lần nữa tôi phải nhấn mạnh, phiên dịch viên cần chú ý đến tính cách và sở thích khác nhau của mỗi cá nhân trong cộng đồng Điếc sử dụng NNKH và không nên xem nhẹ vấn đề này.

Các kí hiệu được tạo ra

Các phiên dịch viên nên tránh việc tự tạo ra các kí hiệu. Việc này thường được tiến hành mà không có sự tham vấn với khách hàng người Điếc. Khi một từ trong ngôn ngữ nói mà không có kí hiệu tương ứng  thì lựa chọn tốt nhất luôn là đánh vần chữ cái ngón tay.

Trong trường hợp phiên dịch viên gặp một khái niệm chuyên môn khi phiên dịch tại lớp học, điều nên làm là thảo luận với học sinh Điếc và cùng quyết định sẽ sử dụng kí hiệu thế nào cho khái niệm này. Tuy nhiên vì kí hiệu được sáng tạo theo kiểu này sẽ không nằm trong kho từ vựng của ngôn ngữ kí hiệu, họ chỉ có thể sử dụng nó trong khuôn khổ lớp học đó và tại tình huống cụ thể đó mà thôi. Nhiều khi các phiên dịch viên cho rằng giờ đây khi họ đã có kí hiệu dùng cho một thuật ngữ nào đó thì nó có thể được dùng ở mọi nơi kể cả trong công đồng Điếc. Trong trường hợp này, các thành viên của cộng đồng Điếc sẽ cho rằng PDV đó sử dụng ký hiệu mà cộng đồng không biết, và thường thì  các kí hiệu sẽ thuộc loại SEE (ký hiệu giống hệt ngôn ngữ nói) chứ không phải NNKH thực sự.

Nhiều khi chính các học sinh Điếc là người đem các kí hiệu mới tạo ra sử dụng ở bên ngoài lớp học. Nếu có lý do chính đáng để sử dụng kí hiệu đó trong cộng đồng, và nó phù hợp với các quy tắc của ngôn ngữ kí hiệu thì trong nhiều trường hợp nó sẽ được chấp nhận sử dụng. Tuy nhiên việc một người Điếc giới thiệu một kí hiệu mới với cộng đồng hay một PDV giới thiệu ký hiệu đó là hoàn toàn khác nhau, cộng đồng thường không cởi mở để chấp nhận một từ vựng mới do một người nói đưa ra.

Khi đó, phiên dịch viên nên nói rõ với học sinh Điếc rằng bạn hiểu những kí hiệu họ tạo ra đó sẽ chỉ được sử dụng trong lớp mà thôi. Điều đó sẽ chứng tỏ cho trẻ Điếc đó và cả cộng đồng rằng phiên dịch viên hiểu được yếu tố văn hoá trong việc này, rằng NNKH là một phần của tạo nên bản sắc văn hoá của người Điếc và cần được tôn trọng.

 Từ chỉ loại

Thực tế cho thấy người nói quen với việc sử dụng và tư duy bằng ngôn ngữ nói sẽ gặp khó khăn khi phải tư duy bằng hình ảnh về một ngôn ngữ. Bởi vì họ sử dụng ngôn ngữ nói và đã quen với việc tiếp nhận thông tin qua thính giác, họ sẽ quen với việc ngôn ngữ được tạo ra theo kiểu tuyến tính. Khi được yêu cầu giải thích một việc đơn giản bằng ngôn ngữ kí hiệu, ví dụ như việc phết bơ lên bánh mì, thường thì các học viên học ngôn ngữ kí hiệu sẽ chọn cách diễn đạt tương ứng với khi họ nói bằng lời, và nếu họ có dùng từ chỉ loại thì thường cũng không chọn được từ phù hợp nhất. Khi dạy cần dành một phần lớn thời gian để giúp học sinh hình dung về hành động trong thực tế, rồi sau đó tìm cách tốt nhất để miêu tả lại các hành động trong ngôn ngữ kí hiệu. Khi người sử dụng ký hiệu hình dung ra cách sử dụng một đồ vật cô ấy muốn đề cập đến, đơn giản là chỉ “biểu diễn” bằng hành động của mình, thì đó chính là từ chỉ loại chuẩn nhất để chỉ vật đó.

Từ chỉ loại trong một ngôn ngữ kí hiệu được miêu tả như sau: “Vì ngôn ngữ kí hiệu được tiếp nhận bằng mắt và được kết hợp từ những chuyển động của bàn tay trong không gian, người ký hiệu có rất nhiều không gian để có thể diễn đạt các thông tin thuộc về không gian cũng như không thuộc về không gian. Người ký hiệu có thể bao quát không gian ký hiệu để thể hiện không gian thể chất hoặc các khái niệm trừu tượng. Trong ngôn ngữ kí hiệu, ‘ngôn ngữ không gian’ –công cụ ngôn ngữ dùng để nói về không gian – là việc sử dụng các cấu trúc chỉ loại thay vì sử dụng giới từ hoặc phụ tố chỉ vị trí… Cấu trúc chỉ loại là một cấu trúc phức tạp diễn đạt chuyển động (ví dụ “ô tô đi vòng vèo lên đồi), vị trí (ví dụ “xe đạp để cạnh cái cây”), thông tin mô tả hình dạng (ví dụ “đồ vật dài và mỏng”), trạng thái cầm nắm, điều khiển (vd: tôi nhấc một vật hình cầu lên). (Emmorey 2002:73-74).

Từ chỉ loại tạo nên bản sắc cho ngôn ngữ kí hiệu, rất giàu ý nghĩa và thường hình dung được bằng hình ảnh. Nếu người ký hiệu không sử dụng từ chỉ loại, cấu trúc ngôn ngữ sẽ không trọn vẹn và bài nói sẽ nhàm chán. Sử dụng từ chỉ loại một cách phù hợp là vô cùng quan trọng. Khi học sinh học ngôn ngữ kí hiệu, họ phải tư duy vượt qua khuôn khổ quen thuộc của mình để mở rộng phạm vi lựa chọn kí hiệu. Ví dụ như tưởng tượng có bao nhiêu cách để mở một cánh cửa sổ: các yếu tố hình ảnh này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc thể hiện ra bằng kí hiệu. Nếu cứ bám vào ngôn ngữ nói thì các lựa chọn của người ký hiệu sẽ bị hạn chế.

Từ chỉ loại được dùng rất nhiều trong các diễn ngôn mô tả. Nếu PDV gặp khó khăn trong việc hình dung ra một cảnh được mô tả bằng ngôn ngữ nói thì việc chọn từ chỉ loại phù hợp cho bản dịch NNKH sẽ khó khăn. Thông thường sẽ có một từ chỉ loại bằng hình tay cụ thể để thể hiện một sự việc nhất định. Lấy ví dụ như nói về quả tim người. Khi một người nói mô tả một số điểm nào đó về quả tim trong tiếng Anh, PDV sẽ mô tả thế nào trong NNKH? Nếu PDV chỉ nghĩ về quả tim như 1 bộ phận trong cơ thể người thì có thể sẽ không diễn đạt được rõ ràng về mặt giải phẫu cho đối tượng khán giả NNKH. Tuy nhiên, nếu PDV làm hình tay chữ (S) (nắm đấm) ở bên tay không thuận, đầu tiên để ở gần người mình, sau đó đưa ra xa, rồi có thể nhắc đến hình tay chữ (S) bên tay không thuận bằng cách dùng tay thuận diễn tả vị trí động mạch hay cuống tim…, kết hợp với nhiều từ chỉ loại khác mang tính tượng hình cao. Có thể kết thúc bằng việc đưa tay không thuận của mình trở về ngực để nhấn mạnh rằng người ta không nói về cái gì bên ngoài cơ thể mà nói về quả tim hoạt động trong cơ thể người.

Nhiều khi, một từ vựng đơn lẻ nào đó được tạo nên từ nhiều từ chỉ loại gốc khác nhau. Trong trường hợp này, người ký hiệu phải sử dụng từ chỉ loại phù hợp đặt theo đúng một hướng nhất định. Làm thế nào để học sử dụng từ chỉ loại đúng cách? Cách đầu tiên và đơn giản nhất là hỏi 1 người Điếc xem làm thế nào để ký hiệu cho đúng. Cách thứ 2 là xem 2 người Điếc nói chuyện với nhau và để ý cách họ sử dụng những từ chỉ loại này như thế nào. Thông thường, cách sử dụng từ chỉ loại trong hội thoại giữa 2 người Điếc sẽ khác hội thoại giữa 1 người Điếc và 1 người nói, do đó tôi khuyên các bạn nên theo dõi 2 người Điếc nói chuyện với nhau và đây sẽ là cơ hội học hỏi hiệu quả. Một cách khác nữa đó là đề nghị 3-4 người khác nhau cùng thể hiện một từ chỉ loại để xem họ có sử dụng cấu trúc giống nhau không, khi đó có thể đạt được sự thống nhất cho một cách ký hiệu, hoặc đôi khi họ lại bất đồng ý kiến với nhau. Tuy nhiên, một lần nữa với tư cách là người học NNKH như một ngôn ngữ thứ hai, PDV cần nhìn nhận sự bất đồng này có thể là do sự đa dạng trong cách sử dụng NNKH luôn tồn tại trong cộng đồng Điếc. Vì vậy khi dich, PDV phải để ý đến sự đáp ứng của khán giả để đảm bảo rằng tất cả mọi người đều hiểu.

Sự xâm phạm của ngôn ngữ nói vào NNKH        

Cần khuyến khích những người nói sử dụng NNKH chú ý hơn đến các lựa chọn ngôn ngữ khi chuyển đổi sang ngôn ngữ kí hiệu. Một yếu tố trong một ngôn ngữ không phải lúc nào có thể chuyển được sang ngôn ngữ khác mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa và tác dụng. Với những người nói học NNKH, sẽ xảy ra nhiều kiểu xâm phạm của ngôn ngữ nói vào NNKH, ví dụ từ vựng hoặc ngữ pháp của ngôn ngữ nói. Sau đây là 1 số ví dụ thường gặp phải.

Một người nói khi nói chuyện với một người Điếc sẽ dùng các ký hiệu tương ứng với các từ trong ngôn ngữ nói được dùng trong ngữ cảnh đó, nhưng lại không thuộc về ngôn ngữ kí hiệu. Một ví dụ minh hoạ khi có lần tôi nói chuyện với một người nói rằng lúc đó tôi mệt mỏi sau một ngày làm việc bận rộn và tối hôm trước thì phải thức khuya để làm vườn. Trong tiếng Anh nói, người nghe có thể đáp lại bằng cách nói  “phải rồi” (right, right) để thể hiện rằng cô ấy hiểu rõ tình trạng của tôi lúc đó. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ kí hiệu Mỹ, khi trả lời “PHẢI RỒI” (RIGH, RIGHT) trong tình huống đó lại có nghĩa là cô ấy đã ở bên cạnh tôi và biết mọi chuyện đã xảy ra, và câu trả lời đó mang tính khẳng định lại vì mình đã chứng kiến điều đó. Và tất nhiên như thế là không đúng. Một câu đáp phù hợp trong tình huống đó sẽ là một ký hiệu mang nghĩa là “Ồ, TÔI HIỂU RỒI”.

Một ví dụ nữa về việc tiếng Anh xâm phạm vào ngôn ngữ ký hiệu đối thoại là việc sử dụng từ “ổn”. Trong tiếng Anh, nếu được hỏi bạn có muốn uống gì không mà trả lời “tôi ổn, cảm ơn” (I’m fine, thanks) có nghĩa là bạn không muốn uống gì cả. Nhưng trong ngôn ngữ kí hiệu Mỹ, sử dụng ký hiệu “ỔN” (FINE) lúc đó có nghĩa là bạn có muốn uống một thứ gì đó. Một điều nữa cần chú ý khi sử dụng kí hiệu, đó là cách chuyển động tay và thái độ khi ra hiệu khác nhau sẽ khiến cho câu nói có nghĩa khác. Ngoài ra, trong NNKH có thể có một vài cách ký hiệu khác nhau cho cùng một từ ký hiệu. Khi người nói học một từ ký hiệu nào đó thì họ sẽ sử dụng kiểu ký hiệu đầu tiên mà họ học được cho tất cả các tình huống. Ví dụ với từ “ổn” (fine) trên đây trong NNKH Mỹ, cách ký hiệu đầu tiên họ học có thể là sẽ là đưa ra trước một cách dứt khoát, có nghĩa rằng “như thế là ổn rồi” cho biết sự đồng ý với điều gì đó. Nhưng ký hiệu này cũng có thể làm theo các cách khác ví dụ gõ nhẹ cạnh ngón tay cái lên ngực sẽ là cách lịch sự hơn để nói “tôi ổn”.

Ví dụ cuối cùng về hiện tượng này là việc sử dụng từ “không”. Trong tiếng Anh, khi nghe kể về một người vừa trúng xổ số 1 triệu đô, và đáp lại là “không!” (no!), đơn giản chỉ có nghĩa là “thật thế á!” thể hiện sự ngạc nhiên. Còn trong NNKH Mỹ nếu trả lời “KHÔNG” (NO) trong trường hợp này nghĩa là người đó không tin câu chuyện trên là thật, sẽ khiến người kia lại phải kể thêm nhiều chi tiết để chứng minh chuyện đó có thật. Những trường hợp thế này nếu người nói sử dụng NNKH cứ mặc định mang từ tương ứng trong bối cảnh ở ngôn ngữ nói sang thì sẽ không phù hợp. Những từ như thế này là khó học và dễ bị “mắc bẫy”, bởi vì nghĩa của nó trong các ngôn ngữ là khá giống nhau, đòi hỏi sự nhạy bén và tinh tường của người sử dụng.

Điều cuối cùng cần lưu ý là những người sử dụng NNKH như ngôn ngữ thứ hai, bao gồm cả các PDV, thường xuyên để ngôn ngữ nói xâm phạm vào NNKH, bởi vì họ không hiểu hết về ngữ pháp NNKH và vì thế không biết cách diễn đạt phù hợp. Còn người Điếc đôi khi cũng tích hợp các từ hoặc câu trong ngôn ngữ nói vào NNKH của mình trong trường hợp họ là người song ngữ và hiểu rõ điều họ làm về mặt ngôn ngữ học. Đó là sự khác nhau của việc kết hợp hai ngôn ngữ một cách có chủ ý và một cách ngờ nghệch.

Sự lựa chọn ngữ nghĩa và từ chửi thề

Các phiên dịch viên phải thận trọng về lựa chọn nghĩa của từ khi sử dụng NNKH, đặc biệt là khi phiên dịch thì hậu quả của lỗi ngữ nghĩa sẽ rất nghiêm trọng. Chủ đề này đã được nhắc đến nhiều lần, nhưng vấn đề này xảy ra rất phổ biến nên đáng để nhắc đến ở đây. Một ví dụ đơn giản là ký hiệu từ “GAS” trong NNKH Mỹ, kiểu ký hiệu như trong hình dưới đây là để chỉ loại xăng dùng cho ô tô, nhưng không phải để chỉ một loại GAS khác là khí ga mà người ta dùng trong hệ thống sưởi của các gia đình, khi muốn nói về loại khí ga này bạn sẽ phải dùng cách đánh vần chữ cái ngón tay G-A-S.

Untitled

Ký hiệu GAS. Từ điển NNKH Canađa của Carole Sue Bailey và Kathy Dolby (2002),trang 275.

Vấn đề này sẽ phức tạp hơn khi liên quan đến các từ “chửi thề”. Thông thường ngữ nghĩa của những từ loại này là không giống nhau trong các ngôn ngữ, có nghĩa là một từ được sử dụng trong ngôn ngữ gốc, nhưng từ tương ứng của nó trong ngôn ngữ đích trên thực tế lại không có cùng một nghĩa, hoặc không thể được dùng theo đúng cách đó hay trong đúng tình huống đó. Ví dụ, từ có nghĩa rất mạnh, đó là từ “fuck” trong tiếng Anh. Kí hiệu của từ này thường hay bị hiểu sai khi dịch sang tiếng Anh. Khi một người Điếc ký hiệu từ này với ngón tay giữa giơ lên và chỉ vào cái gì đó, thì có thể là do cô ấy bị nhận điểm kém, chứ không mang nghĩa một từ chửi tục trong tiếng Anh như nhiều PDV nghĩ khi họ lại tư duy theo nghĩa của từ tương ứng trong tiếng Anh. Lúc này khi dịch sang tiếng Anh nên dịch là “Cái này có vấn đề gì vậy?” hay “Thế này là thế nào?”. Ở hai nền văn hóa và hai ngôn ngữ khác nhau, những từ tưởng như là tương ứng với nhau lại thường không mang nghĩa giống nhau hoặc gây tác động giống nhau, cái này gọi là “cặp đôi sai lệch” (theo Gile 1995). Như ở ví dụ trên, người phiên dịch không nên trước tiên lại đi gán nghĩa của từ tương ứng trong tiếng Anh sang cho từ ký hiệu trong bài gốc, rồi lại quay ra dịch ký hiệu đó sang tiếng Anh với nghĩa đó. Người dịch trước tiên phải hiểu rõ nghĩa của một từ hay câu trong ngôn ngữ gốc, rồi tìm một từ/ câu tương ứng trong ngôn ngữ đích mà diễn đạt cùng một nghĩa như vậy. Điều cần thiết là luôn phải để ý đến các hàm ý văn hóa trong mỗi lựa chọn từ ngữ của PDV, điều này đặc biệt quan trọng trong quá trình phiên dịch. Việc liên tục học hỏi là bắt buộc đối với PDV, và người Điếc trong cộng đồng với NNKH là ngôn ngữ thứ nhất chính là nguồn thông tin hiệu quả nhất.

Đánh giá nội dung 3:

  1. Hãy phân tích những đặc điểm trong gọi tên, và dùng kí hiệu của người Điếc ở Việt Nam
  2. Hãy phân tích sự xâm nhập ngôn ngữ nói vào dịch ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam

THỰC HÀNH                                                          

Xem 3 clip tại các trang Web:

https://www.youtube.com/watch?v=i6ZH50YE4VA

https://www.youtube.com/watch?v=7K5KmPg3n00

https://www.youtube.com/watch?v=Ot3LkjLnV8k

Sau mỗi clip trả lời câu hỏi sau đây:

Xem lần 1.

  1. Phiên dịch viên đóng vai trò thế nào trong clip?

Xem lần 2.

  1. Bạn có nhận xét gì về phiên dịch viên trong clip?

Xem lần 3.

  1. Nếu là phiên dịch trong clip, bạn sẽ làm gì đểphù hợp và hiệu quả hơn?

Tài liệu tham khảo:

  1. Isham, William P. Vai trò của phân tích thông điệp trong công tác phiên dịch.
  2. Seleskovitch, Danica. Phiên dịch cho các hội thảo quốc tế.   Washington,  D.C.: Pen and Booth.
  3. http://Bible.is/Deaf
  4. http://books.google.com/books?id=LwxzAwAAQBAJ&pg=RA2-PR64&lpg=RA2-PR64&dq=%22deaf+synagogues%22&source=bl&ots=XW6ZkykEAC&sig=gt8chZW2RFbHI4MD1Fd6jpTCv68&hl=en&sa=X&ei=OCiSU-rQJYnLsQTm2oKIBw&ved=0CEMQ6AEwBQ#v=onepage&q=%22deaf%20synagogues%22&f=false
  5. http://deafnetwork.com/wordpress/blog/2011/06/20/jdrc-salutes-conservative-judaisms-ruling-to-include-deaf-jews-as-equals/
  6. http://ohsoez.com/churches/churchtitle.htm
  7. http://pink.deafinc.org/about.html
  8. http://skokie.patch.com/listings/hebrew-seminary-of-the-deaf
  9. http://www.actiononhearingloss.org.uk/news-and-events/all-regions/press-releases/banks-face-massive-payouts-to-deaf-customers.aspx
  10. http://www.deafrad.org/
  11. http://www.dwu.org/#!about_us/csgz
  12. http://www.glbtq.com/social-sciences/deaf_culture,2.html
  13. http://www.hebrewseminary.org/contact_us.aspx
  14. http://www.jwi.org/page.aspx?pid=3312#sthash.YCGDTeU8.dpuf
  15. http://www.lgbtdiversity.com/organisations.aspx?title=other_lgbt_organisations
  16. http://www.nbda.org/content/about-us
  17. http://www.npr.org/blogs/alltechconsidered/2013/05/12/183218751/new-closed-captioning-glasses-help-deaf-go-out-to-the-movies